Tản mạn ngày xuân với nhạc sĩ “làng lúa, làng hoa”
Trong những ngày Xuân, đâu đó lại vang lên giai điệu tha thiết, rộn ràng của “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” như một lời hẹn ước của đất trời. Hình ảnh hồ Tây, làng lúa, làng hoa… là một phần ký ức của người Hà Nội, gợi nhớ về một thời mộc mạc, yên bình. Hơn bốn thập kỷ trôi qua, ca khúc ấy của nhạc sĩ Ngọc Khuê vẫn vẹn nguyên sức sống. Đối với nhiều thế hệ người Hà Nội, khi giai điệu “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” vang lên, một trời ký ức lại ùa về…
Nhạc sĩ Ngọc Khuê sinh năm 1947 tại làng Giá, Yên Sở, nay là xã Dương Hòa, ngoại thành Hà Nội. Gần như cả sự nghiệp gắn bó với Đoàn Văn công Phòng không - Không quân, gia tài sáng tác của ông là hơn 300 ca khúc. Trong đó, “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” có thể coi như ca khúc đã “định danh” phong cách Ngọc Khuê trong âm nhạc. Mỗi khi Tết đến, Xuân về, ca khúc này vẫn là lựa chọn hàng đầu trong các chương trình văn nghệ xuân. Nhân dịp năm mới Bính Ngọ, người nhạc sĩ khoác áo lính năm xưa chia sẻ với Báo Nhà báo và Công luận vài câu chuyện xung quanh ca khúc để đời của ông.

Những cung bậc tình cảm nồng nàn nhất nhạc sĩ Ngọc Khuê đều gửi gắm vào mùa xuân.
+ Bài hát “Làng lúa làng hoa” đã trở thành một biểu tượng của vùng ven đô Hà Nội, khắc họa vẻ đẹp lao động và tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương. Xin ông chia sẻ về khoảnh khắc hay sự kiện nào đã tạo nên nguồn cảm hứng, giúp ông “bắt” được giai điệu tươi mới, lạc quan và đầy chất thơ đó?
- Tôi viết “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” trước hết là tình yêu đối với Hà Nội, đối với vùng đất hồ Tây. Là vì tôi có một người bạn ở làng hoa Nghi Tàm, chúng tôi cùng đơn vị chiến đấu với nhau gần 10 năm, sau vẫn thỉnh thoảng gặp nhau, thăm hỏi nhau. Ngày ấy, ở Nghi Tàm hầu như nhà nào cũng có một mảnh đất để trồng hoa. Một lần đến thăm bạn, từ dốc Bưởi đi lên thì chợt bắt gặp hồ Tây ở bên phải, xa xa là các làng hoa Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân; bên kia con đê là các làng Xuân La, Xuân Đỉnh - nơi mà lúc bấy giờ hoàn toàn là cánh đồng lúa. Khung cảnh ấy tạo cho mình cảm hứng để viết nên lời hát “Bên lúa anh bên lúa, cánh đồng làng ven đê/Hồ Tây xanh mênh mông trong tươi thắm nắng chiều/Làng em, làng hoa…” Những cái cụ thể chắp cho mình một cái tứ giai điệu là hồ Tây, lúa và hoa. Bài hát hình thành như vậy, đó chính là phong cảnh thực của hồ Tây những năm đó.
+ Trong suốt chặng đường tác phẩm lan tỏa, chắc chắn có những kỷ niệm đặc biệt. Ông còn nhớ lần đầu tiên tác phẩm được hát trước công chúng hoặc một kỷ niệm nào đó mà ông cảm thấy ấn tượng và đáng nhớ nhất?
- Bài hát này tôi viết ra cuối năm 1980. Khi tôi gửi lên Đài Tiếng nói Việt Nam thì Đài chấp nhận ngay, cho thu thanh luôn. Tôi rất thích nghe những chương trình ca nhạc trên Đài và thường không bỏ qua chương trình nào. Tối mùng 2 Tết năm Tân Dậu 1981 trong ca trực cơ quan, nghe chương trình ca nhạc giới thiệu tác phẩm mới của Đài Tiếng nói Việt Nam, bất ngờ tôi được nghe “Mùa xuân, làng lúa làng hoa”. Và bài hát lại do chính ca sĩ Thanh Hoa hát, đúng như đề nghị của tôi. Đó là hạnh phúc rất lớn của người sáng tác, bởi khi đó tôi được coi là tác giả trẻ, mà tác phẩm của mình lại được phát trên sóng đến với thính giả cả nước. Sung sướng, tự hào lắm. Niềm vui và hạnh phúc đến, khiến mình mất ngủ mấy ngày luôn.

+ Theo ông, đâu là điều cốt lõi giúp cho “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” vượt qua được thời gian, giữ được sức sống của nó mặc dù đời sống âm nhạc mấy chục năm qua thay đổi liên tục?
- Tôi nghĩ rằng mình đã chắt lọc, đã vận dụng được chất dân ca lồng vào bài hát. Có thể mường tượng “Bên lúa, em bên lúa…” là những lớp sóng, sóng nhỏ thôi của hồ Tây. Âm nhạc dân gian mà đưa được vào tác phẩm của mình một cách khéo léo thì hiệu quả đạt được sẽ rất lớn. Nhưng nếu đưa dân ca vào không khéo, đưa vào một cách lộ liễu thì sẽ hiện ra ngay là mình đi copy. Phải khai thác được cái “chất” của chất liệu dân ca, ẩn trong nét đi của giai điệu thì ca khúc mới nhuần nhuyễn, mới tạo ra được cái mới. Tôi viết bài hát này đúng với những tình cảm thật, tâm tư thật và cái vốn liếng âm nhạc truyền thống mình đã có.
Tôi cũng được nghe một số nhà phê bình hay khán giả nhận xét rằng, ca từ trong bài hát rất đẹp, giai điệu mượt mà, mang đến không khí phơi phới tươi vui của mùa Xuân ấm áp…
Tính đến nay, bài hát đã ra đời tròn 45 năm, đó là thời gian khá dài. Và cũng rất may là bài hát viết về Hà Nội nhưng lại được nhiều khán giả trong cả nước yêu thích. Cùng với việc được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2012, bài hát còn được đánh giá và trao thưởng là một trong hai bài hát hay về ngành nông nghiệp. Dịp tổng kết 50 năm văn học, nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất hồi tháng tư vừa rồi “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” cũng lọt vào danh sách 50 bài hát hay nhất.

+ Ca khúc “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” đã trở thành biểu tượng cho sự tươi đẹp của vùng quê ven đô. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, khi những cánh đồng lúa đang dần nhường chỗ cho các khu đô thị mới, những làng hoa đang thu hẹp từng năm, ông có suy nghĩ, nỗi niềm, hay những trăn trở trước sự thay đổi này. Liệu rằng, những “làng lúa làng hoa” sẽ chỉ còn tồn tại trong âm nhạc và ký ức?
- Không chỉ riêng tôi mà nhiều người cũng có băn khoăn, nuối tiếc vì những vùng đất mình đã viết nay đã trở thành phố phường, các làng hoa giờ đây dường như không còn trồng hoa nữa. Có nhà phê bình nói với tôi rằng, ông viết trong bài hát một cái để ăn, để sống là lúa; một cái để chơi là hoa. Không có lúa thì chết nhưng không có hoa cũng “gần như chết”. Nhưng cũng rất may là những vùng trồng hoa trong nội thành không còn thì nay đã được thay thế bằng những cánh đồng hoa ở ngoại thành. Tiếc thì có tiếc nhưng chúng ta vẫn có hoa. Cuộc sống của chúng ta vẫn song hành cả vật chất lẫn tinh thần là lúa và hoa. Dù nuối tiếc nhưng tôi cũng thấy mừng là làng quê ngày càng giàu đẹp hơn và tôi nghĩ “làng lúa, làng hoa” sẽ còn tồn tại, không chỉ trên truyền hình, phát thanh mà luôn hiện hữu trong đời thực.



