A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bảo tồn văn hóa phải gắn với đời sống cộng đồng và truyền dạy thế hệ trẻ

Các đại biểu Quốc hội cho rằng, bảo tồn văn hóa không thể chỉ dừng ở đầu tư thiết chế hay lưu giữ di sản, mà phải gắn chặt với đời sống cộng đồng, bảo đảm không gian thực hành văn hóa và duy trì truyền dạy cho thế hệ trẻ. Theo các đại biểu, chỉ khi người dân thực sự sống cùng văn hóa và nhìn thấy giá trị của văn hóa trong đời sống hôm nay, công tác bảo tồn mới có thể bền vững.

Thảo luận tại Quốc hội ngày 22/4 về dự thảo Nghị quyết một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam, các đại biểu Quốc hội bày tỏ đồng thuận với sự cần thiết ban hành nghị quyết. Bên cạnh đó, các ý kiến cũng chỉ ra nhiều “điểm nghẽn” trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong đời sống đương đại.

Đề cập trực tiếp tới vấn đề bảo tồn văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Quốc hội Hoàng Ngọc Định (Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang) cho rằng nghị quyết không nên chỉ dừng ở việc đầu tư thiết chế hay bố trí nguồn lực theo nghĩa vật chất.

40.jpg
Đại biểu Quốc hội Hoàng Ngọc Định tham gia thảo luận.

Theo đại biểu, vấn đề hiện nay không phải thiếu thiết chế, mà là thiếu cơ chế để các thiết chế đó vận hành hiệu quả, có hoạt động thực chất và gắn với cộng đồng. Thực tế ở nhiều nơi cho thấy, nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng hay không gian biểu diễn đã được đầu tư nhưng lại thiếu người tổ chức, thiếu nội dung hoạt động, thiếu cơ chế quản lý phù hợp, dẫn đến tình trạng có công trình nhưng không có sức sống.

Nói cách khác, theo đại biểu, điều còn thiếu không phải là “vỏ”, mà là “hồn” vận hành.

Từ thực trạng đó, đại biểu Hoàng Ngọc Định đề nghị cần làm rõ hơn cơ chế hỗ trợ hoạt động truyền dạy, thực hành các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian truyền thống ngay tại cộng đồng; đồng thời xác lập rõ vai trò của thiết chế văn hóa cơ sở như không gian sinh hoạt, thực hành và truyền dạy văn hóa.

Theo đại biểu, nếu thiết chế văn hóa không trở thành nơi người dân đến để hát, diễn, kể chuyện, truyền nghề, tập luyện hay sinh hoạt lễ tục, thì rất khó coi đó là công cụ bảo tồn văn hóa đúng nghĩa.

41.jpg
Đại biểu Quốc hội Nàng Xô Vi phát biểu.

Cùng nhìn nhận vấn đề từ góc độ chủ thể văn hóa, đại biểu Quốc hội Nàng Xô Vi (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi) phân tích sâu hơn thực trạng của các dân tộc thiểu số rất ít người.

Theo đại biểu, với những cộng đồng có quy mô dân số rất nhỏ như Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu, Si La… nếu không có nguồn lực riêng, ổn định và dài hạn thì nguy cơ mất bản sắc là hoàn toàn hiện hữu.

Vì vậy, đại biểu đề nghị không nên áp dụng cùng một mức độ hỗ trợ cho mọi nhóm chủ thể văn hóa, bởi có những nhóm đang ở tình trạng “báo động cao”, nơi số người còn biết thực hành di sản chỉ đếm trên đầu ngón tay, còn các nghệ nhân am hiểu sâu đều đã cao tuổi. Nếu chậm một bước, việc phục hồi sau này có thể không còn khả thi.

Nhấn mạnh vai trò của con người trong bảo tồn di sản, đại biểu Nàng Xô Vi cho rằng vấn đề hiện nay không chỉ là bảo tồn văn hóa, mà còn là bảo tồn chính chủ thể văn hóa.

Theo đại biểu, khi nghệ nhân không có lương, không có bảo hiểm, khi lớp thanh niên kế cận không nhìn thấy cơ hội sinh kế trong việc gìn giữ văn hóa truyền thống thì việc truyền dạy sẽ rất khó khăn.

Trong khi đó, các chương trình bảo tồn hiện nay vẫn nặng tính “dự án hóa”, thiếu sự tham gia tự nhiên và bền vững của cộng đồng, khiến nguy cơ mai một ngày càng rõ nét.

Từ đó, đại biểu đề nghị cần có trợ cấp thường xuyên, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hỗ trợ truyền dạy có trả công, cũng như chính sách đào tạo lớp kế cận là thanh niên người dân tộc thiểu số nhằm tránh đứt gãy thế hệ văn hóa.

42.jpg
Đại biểu Quốc hội Y Bhen Kđoh phát biểu.

Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Quốc hội Y Bhen Kđoh (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) cho rằng không thể yêu cầu nghệ nhân giữ lửa văn hóa chỉ bằng tinh thần tự nguyện trong khi đời sống còn nhiều bấp bênh.

Theo đại biểu, chính sách đãi ngộ không thể dừng ở những khoản hỗ trợ tượng trưng, mà phải đủ để nghệ nhân có điều kiện sống, điều kiện truyền dạy và động lực gắn bó lâu dài với vai trò chủ thể sáng tạo văn hóa.

43.jpg
Đại biểu Quốc hội Dương Mạc Kiên phát biểu.

Ở góc độ nguyên tắc phát triển văn hóa, đại biểu Quốc hội Dương Mạc Kiên (Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng) cho rằng dự thảo hiện còn thiếu một hệ nguyên tắc đủ rõ về bảo tồn và phát huy di sản.

Đại biểu cho rằng cần xác lập rõ các nguyên tắc như cộng đồng là chủ thể văn hóa, bảo tồn phải đi trước khai thác đối với di sản, đồng thời phát triển bao trùm cần ưu tiên vùng khó khăn.

Đặc biệt, theo đại biểu, dự thảo chưa nêu rõ cơ chế để cộng đồng được hưởng lợi từ khai thác di sản; chưa làm rõ tỷ lệ tái đầu tư cho cộng đồng hay cơ chế hỗ trợ trực tiếp đối với nghệ nhân, người nắm giữ tri thức bản địa.

Đại biểu nhấn mạnh, nếu việc bảo tồn và khai thác di sản chỉ tạo lợi ích cho đơn vị tổ chức, doanh nghiệp hoặc ngân sách chung mà cộng đồng chủ thể không được hưởng lợi xứng đáng, thì về lâu dài động lực giữ gìn di sản trong dân sẽ suy giảm.

Từ các ý kiến thảo luận, có thể thấy một thông điệp nổi lên khá rõ: bảo tồn văn hóa vùng dân tộc thiểu số không thể tiếp tục là công việc của hồ sơ, đề án hay những cuộc “trình diễn” theo mùa vụ, mà phải là chính sách giữ người, giữ làng bản, giữ ngôn ngữ, giữ môi trường thực hành và giữ sinh kế gắn với văn hóa.

Chỉ khi người dân thấy rằng gìn giữ văn hóa cũng chính là gìn giữ tương lai của cộng đồng mình, khi đó công tác bảo tồn mới thực sự bền vững.

Không chỉ ở vùng dân tộc thiểu số, nhiều đại biểu cũng cho rằng văn hóa dân gian nói chung đang đứng trước nguy cơ đứt gãy truyền dạy và ngày càng xa rời công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Theo các đại biểu, đây là thách thức không thể giải quyết chỉ bằng đầu tư cơ sở vật chất.

44.jpg
Đại biểu Phạm Văn Hòa thảo luận trước Quốc hội.

Bày tỏ lo ngại về thực trạng này, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp) cho rằng việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc hiện nay còn mang tính hình thức.

Đại biểu nhấn mạnh rằng dù nói nhiều về bảo tồn, nhưng kết quả thực tế chưa tương xứng; thậm chí có người trong cộng đồng không còn biết tiếng nói, chữ viết của chính dân tộc mình.

Theo đại biểu, điều đáng suy nghĩ là giữa chính sách và kết quả cuối cùng vẫn tồn tại khoảng trống lớn. Nếu sau một thời gian triển khai mà không thể đo đếm bằng việc cộng đồng có thêm bao nhiêu người biết chữ, biết tiếng, biết hát, biết diễn hay biết thực hành di sản, thì chính sách rất dễ đúng về khẩu hiệu nhưng mờ nhạt về hiệu quả thực tế.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết