A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Chuyển từ lượng sang chất

Những năm qua, hệ thống khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) đã trở thành bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm.

Phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Chuyển từ lượng sang chất
Hệ thống khu công nghiệp, cụm công nghiệp trở thành bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế.

Không gian công nghiệp mở rộng, dư địa khai thác còn lớn

Những năm qua, hệ thống khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) đã trở thành bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), tính đến hết quý III/2026, cả nước có 478 KCN được thành lập, gồm 421 KCN nằm ngoài các khu kinh tế (KKT), 49 KCN trong KKT ven biển và 8 KCN trong KKT cửa khẩu.

Tổng diện tích đất tự nhiên của các KCN đạt khoảng 145,97 nghìn ha, tạo quỹ đất công nghiệp khoảng 101,6 nghìn ha. Trong đó, 324 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 95,7 nghìn ha, diện tích đất công nghiệp khoảng 68 nghìn ha.

Bên cạnh đó, 153 KCN đang trong quá trình xây dựng, dự kiến bổ sung khoảng 32,6 nghìn ha đất công nghiệp trong thời gian tới.

Đáng chú ý, diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt khoảng 54,1 nghìn ha. Theo số liệu công bố, tỷ lệ lấp đầy trên tổng quỹ đất công nghiệp đạt 53,72%, trong khi tỷ lệ này tại các KCN đang hoạt động đạt khoảng 78,8%.

Về hạ tầng môi trường, có 298 trong tổng số 324 KCN đang hoạt động đã vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, tương đương khoảng 92%.

Cùng với hệ thống KCN, cả nước đã thành lập 26 KKT cửa khẩu với tổng diện tích khoảng 766.000 ha và 20 KKT ven biển với tổng diện tích đất và mặt nước khoảng 891,5 nghìn ha.

Tuy nhiên, quy mô lớn cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết. Trong khi nhiều KCN đang hoạt động có tỷ lệ lấp đầy tương đối cao, một bộ phận quỹ đất công nghiệp vẫn trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hạ tầng và tìm kiếm nhà đầu tư. Hạ tầng xử lý nước thải tập trung dù đã được cải thiện vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

Bức tranh đó cho thấy, dư địa phát triển không chỉ nằm ở việc thành lập thêm KCN, CCN, mà còn ở khả năng khai thác hiệu quả quỹ đất hiện có, nâng cao chất lượng hạ tầng và tạo thêm giá trị từ các dự án sản xuất.

Định hướng phát triển đồng bộ, hiện đại và bền vững

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, phát triển công nghiệp tiếp tục được Chính phủ xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm mở rộng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng.

Tuy nhiên, yêu cầu phát triển công nghiệp hiện nay không còn chỉ là gia tăng quy mô vốn đầu tư, số lượng nhà máy hay diện tích đất sản xuất, mà phải gắn với nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Tinh thần này được thể hiện tại Nghị quyết số 36/NQ-CP ngày 6/3/2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2/2026.

Chính phủ yêu cầu các địa phương thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, đồng thời phát triển các mô hình KCN, CCN sinh thái, tuần hoàn, sử dụng tài nguyên hiệu quả, bền vững và bảo vệ môi trường.

Định hướng này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh yêu cầu về công nghệ, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và tiêu chuẩn môi trường ngày càng trở thành những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo đó, phát triển KCN, CCN không chỉ dừng ở việc cung cấp mặt bằng sản xuất, mà cần từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, có khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng và giảm thiểu tác động đến môi trường.

Đối với KCN, yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, ưu tiên những dự án có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Đối với CCN, cần phát huy vai trò tạo mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến và các ngành nghề phù hợp với lợi thế địa phương; đồng thời từng bước nâng cao trình độ công nghệ, chất lượng hạ tầng và điều kiện bảo vệ môi trường.

Đáng chú ý, định hướng phát triển không gian công nghiệp còn được đặt trong tổng thể phát triển kết cấu hạ tầng quốc gia.

Tại Quyết định số 1856/QĐ-TTg ngày 26/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch thúc đẩy xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, trong đó chú trọng kết nối hệ thống giao thông, cảng biển, cảng hàng không, logistics với các KCN, KKT và hành lang kinh tế.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả hoạt động của các KCN, CCN. Bởi sức hấp dẫn của một khu công nghiệp không chỉ phụ thuộc vào diện tích đất sẵn có, mà còn gắn với khả năng kết nối thị trường, vận chuyển nguyên vật liệu, cung ứng năng lượng và tổ chức sản xuất.

Hạ tầng kết nối đồng bộ sẽ góp phần giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian vận chuyển, mở rộng khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.

Ngược lại, việc phát triển KCN, CCN thiếu gắn kết với hạ tầng giao thông, năng lượng và các dịch vụ thiết yếu có thể dẫn đến chi phí đầu tư lớn nhưng hiệu quả khai thác chưa tương xứng.

Nhìn từ bức tranh phát triển đến hết tháng 9/2026 và các định hướng điều hành của Chính phủ, có thể thấy một yêu cầu ngày càng rõ nét: hiệu quả phát triển KCN, CCN không thể chỉ được đo bằng số lượng khu được thành lập hay tổng diện tích đất quy hoạch.

Quan trọng hơn là khả năng đưa đất công nghiệp vào sử dụng, thu hút các dự án sản xuất có chất lượng, tạo việc làm, gia tăng giá trị sản xuất, đóng góp ngân sách và bảo vệ môi trường.

Với quỹ đất công nghiệp khoảng 101,6 nghìn ha đã hình thành, việc nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng đất có thể tạo ra dư địa tăng trưởng đáng kể mà không nhất thiết phải mở rộng không gian sản xuất bằng mọi giá.

Bên cạnh đó, chuyển đổi các KCN hiện hữu theo hướng sinh thái, thông minh, tăng cường liên kết doanh nghiệp và phát triển dịch vụ hỗ trợ sản xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống hạ tầng đã được đầu tư.

Đối với các địa phương, việc quy hoạch và phát triển KCN, CCN cũng cần phù hợp với lợi thế kinh tế, khả năng kết nối hạ tầng và nhu cầu thực tế của nhà đầu tư, tránh đầu tư dàn trải, hình thành quỹ đất công nghiệp nhưng chậm đưa vào khai thác.

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng lớn, lợi thế phát triển công nghiệp không chỉ nằm ở quỹ đất hay chi phí lao động, mà còn ở chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, môi trường đầu tư và khả năng kết nối chuỗi sản xuất.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết