Điều chỉnh Chiến lược nợ công đến năm 2030: Bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, tạo động lực tăng trưởng
Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030, nhằm cập nhật quan điểm, mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và các nhiệm vụ, giải pháp quản lý nợ công trong giai đoạn 2026 - 2030.
![]() |
| Chiến lược định hướng lựa chọn một số công trình phát triển cơ sở hạ tầng có tính chất lan tỏa, có khả năng tạo nguồn thu trả nợ để Chính phủ cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài. |
Kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công
Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030, nhằm cập nhật quan điểm, mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và các nhiệm vụ, giải pháp quản lý nợ công trong giai đoạn 2026 - 2030.
Theo quy định mới, việc xây dựng và thực hiện Chiến lược nợ công phải bám sát, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công nhằm bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Trung ương và các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030.
Chiến lược tiếp tục xác định nguyên tắc xuyên suốt trong quản lý nợ công là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả nợ. Hoạt động vay nợ phải bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, đồng thời phát huy vai trò của nợ công như một đòn bẩy cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực tăng trưởng bền vững.
Trong huy động vốn, tiếp tục thực hiện nguyên tắc nguồn vay trong nước là cơ bản, quyết định, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả với nguồn vay nước ngoài là quan trọng.
Về mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, Quyết định yêu cầu kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước theo mức được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch tài chính quốc gia, vay, trả nợ công 5 năm. Đồng thời, các chỉ tiêu an toàn nợ công phải được bảo đảm trong giới hạn Quốc hội phê duyệt.
Cụ thể, nợ công hằng năm không quá 60% GDP; nợ Chính phủ hằng năm không quá 50% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước và nợ nước ngoài hằng năm của quốc gia không quá 50% GDP.
Các giới hạn này là cơ sở để điều hành hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng vốn vay, gắn yêu cầu đáp ứng nguồn lực cho phát triển với việc kiểm soát nghĩa vụ trả nợ và bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.
Ưu tiên vốn vay cho các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao
Một trong những nội dung đáng chú ý của Quyết định số 1989/QĐ-TTg là điều chỉnh định hướng huy động và sử dụng vốn vay theo hướng tập trung nguồn lực cho các chương trình, dự án quan trọng, có tác động thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đó, việc vay vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài phải gắn với khả năng trả nợ trong dài hạn; ưu tiên các dự án hạ tầng then chốt và những lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao. Việc lựa chọn nguồn vốn và điều kiện vay phải phù hợp, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay.
Đáng chú ý, Quyết định bổ sung định hướng tập trung đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và các chương trình, dự án thuộc Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV.
Cùng với đó, ưu tiên các dự án trọng điểm có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và tạo đột phá trong thu hút vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Việc phân bổ và sử dụng nguồn lực phải khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài.
Đối với hoạt động vay, trả nợ của chính quyền địa phương, Quyết định yêu cầu tăng cường quản lý chặt chẽ, bảo đảm dư nợ trong hạn mức theo quy định của pháp luật. Các địa phương phải bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn, đồng thời chủ động quản lý rủi ro phát sinh từ hoạt động vay.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát nghĩa vụ nợ dự phòng và bảo đảm nguồn trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh tiếp tục được siết chặt. Công tác quản lý bảo lãnh phải thực hiện đúng quy định, bảo đảm hiệu quả và trong phạm vi hạn mức được phê duyệt.
Nguồn vốn bảo lãnh Chính phủ được tập trung ưu tiên cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia đã được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư.
Hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm phải được kiểm soát trong phạm vi hạn mức bảo lãnh 5 năm do Quốc hội quyết định. Việc kiểm soát tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ và quyết định hạn mức trong trường hợp vượt tốc độ tăng GDP của năm trước được thực hiện theo khoản 4 Điều 24 Luật Quản lý nợ công.
Ngoài ra, Chiến lược định hướng lựa chọn một số công trình phát triển cơ sở hạ tầng có tính chất lan tỏa, có khả năng tạo nguồn thu trả nợ để Chính phủ cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài.
Hiện đại hóa quản lý nợ công, nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia
Cùng với việc điều chỉnh mục tiêu và định hướng huy động vốn, Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ công trong giai đoạn 2026 - 2030.
Về hoàn thiện thể chế, Chiến lược yêu cầu tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả Luật Quản lý nợ công đã được sửa đổi, bổ sung và các văn bản quy định chi tiết. Đồng thời, tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, bảo đảm tính đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các quy định có liên quan.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục nâng cao chất lượng thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài tự vay, tự trả.
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, các cơ quan nghiên cứu định hướng đổi mới khung chính sách quản lý nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, phù hợp với điều kiện kinh tế và yêu cầu bảo đảm an toàn nợ quốc gia, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Đối với các công cụ, biện pháp quản lý nợ, Quyết định xác định yêu cầu quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững. Chính phủ điều hành các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ phù hợp với thông lệ quốc tế và bối cảnh của Việt Nam, đồng thời đa dạng hóa hình thức huy động vốn theo diễn biến thị trường và yêu cầu huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước.
Việc quản lý ngân sách nhà nước và nợ công phải được gắn kết chặt chẽ với quản lý ngân quỹ nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, bảo đảm thanh khoản của Chính phủ tại mọi thời điểm.
Cùng với đó, hoạt động vay nợ được điều hành chủ động, linh hoạt về công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay trong năm, gắn với công tác quản lý ngân quỹ. Qua đó, giảm áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu vốn và tạo dư địa dự phòng trong những thời điểm thị trường không thuận lợi, đồng thời bảo đảm an toàn nợ công và thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ.
Một nội dung quan trọng khác được sửa đổi trong Chiến lược là tiếp tục tăng cường công khai, minh bạch trong huy động, quản lý và sử dụng nợ công, gắn với nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Theo đó, Việt Nam phấn đấu sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm ở mức Đầu tư, đồng thời tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030.
Việc sửa đổi, bổ sung Chiến lược nợ công đến năm 2030 tiếp tục đặt trọng tâm vào quản lý nợ công an toàn, bền vững, nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay. Qua đó, vừa bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, vừa phát huy vai trò của nguồn vốn vay trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030.





