Sửa đổi Nghị định 52 mở đường cho QR Code xuyên biên giới
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề xuất cho phép tổ chức nước ngoài cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc trung gian thanh toán cho người không cư trú và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thông qua các ngân hàng hoặc tổ chức chuyển mạch tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP do NHNN xây dựng hiện đang chờ thẩm định. Dự thảo này đề xuất những thay đổi căn bản trong nhóm điều khoản thanh toán quốc tế nhằm tạo cơ sở pháp lý cho làn sóng thanh toán số hóa xuyên biên giới.

Nhu cầu thanh toán xuyên biên giới ngày càng gia tăng
Khơi thông hành lang pháp lý
Nhu cầu thanh toán xuyên biên giới của người dân và doanh nghiệp đã trở thành một đòi hỏi thực tiễn cấp thiết vừa thúc đẩy giao thương vừa mở ra nhiều cơ hội phát triển trong kỷ nguyên số.
Trên thực tế, Việt Nam chủ động triển khai thí điểm kết nối thanh toán song phương bằng mã QR với một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Campuchia hay Lào và đạt được những tín hiệu rất tích cực.
Tuy nhiên, để chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang vận hành diện rộng một cách ổn định và an toàn, cần khung pháp lý đồng bộ, vững chắc.
Điểm nhấn đáng chú ý nhất trong đợt sửa đổi này nằm ở khoản 3 Điều 5 Dự thảo Nghị định. Theo đó, Dự thảo cho phép tổ chức nước ngoài cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc trung gian thanh toán cho người không cư trú và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thông qua hai kênh chính thức.
Kênh 1 là qua các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được NHNN chấp thuận tham gia hệ thống của tổ chức đó.
Kênh 2 là qua tổ chức chuyển mạch tài chính quốc tế tại Việt Nam đã được cấp phép để thực hiện kết nối trực tiếp với hệ thống thanh toán nước ngoài, hoặc kết nối thông qua một tổ chức chuyển mạch nước ngoài khác.
NHNN cho biết quy định mới này nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các mô hình thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR xuyên biên giới đang mở rộng nhanh chóng như các dự án hợp tác hiện thời giữa Việt Nam với Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc, Hàn Quốc...
Cơ chế này giúp giảm tải đáng kể thủ tục hành chính khi không còn bắt buộc cả công ty chuyển mạch lẫn ngân hàng quyết toán đều phải gửi hồ sơ phê duyệt tham gia riêng biệt như trước đây.
Đơn giản hóa điều kiện tham gia
Nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước chủ động hội nhập, Dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 21 về điều kiện tham gia hệ thống thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Các điều kiện đã được cắt giảm và đơn giản hóa theo hướng rõ ràng, phù hợp với thực tiễn và "khẩu vị rủi ro" của từng đơn vị. Các ngân hàng chỉ cần đảm bảo: có hệ thống thông tin đáp ứng quản trị điều hành và an toàn bảo mật; quy định nội bộ về tiêu chuẩn kết nối bảo đảm an ninh mạng hệ thống thông tin từ cấp độ 3 trở lên; có hồ sơ chứng minh hoạt động liên tục và tài liệu mô tả chi tiết hệ thống thanh toán quốc tế.
Trong giai đoạn góp ý cho dự thảo Nghị định, liên quan mô hình xuất khẩu qua sàn thương mại điện tử, có ngân hàng đã đề nghị bổ sung quy định điều chỉnh cho mô hình người bán hàng Việt Nam xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài thông qua các sàn thương mại điện tử lớn (như Amazon, Alibaba) có sử dụng dịch vụ thu hộ của các tổ chức trung gian thanh toán nước ngoài, sau đó các tổ chức này chuyển tiền về tài khoản trong nước qua một ngân hàng được phép tại Việt Nam.
Một ngân hàng khác đề nghị làm rõ khả năng nhận và chuyển tiền quốc tế của ví điện tử. Ngân hàng này cho rằng nếu ví điện tử được phép nhận và chuyển tiền quốc tế thì cần làm rõ cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát tuân thủ quản lý ngoại hối.
Ngoài ra, NHNN còn đề xuất sửa đổi khoản 19 Điều 3 về giải thích từ ngữ "Hệ thống thanh toán". Quy định mới sẽ tách biệt rõ ràng các chức năng của hệ thống (bao gồm quy định, phương tiện, quy trình, thủ tục, hạ tầng kỹ thuật) để thực hiện kết nối, truyền dẫn, xử lý, bù trừ giao dịch và/hoặc quyết toán giao dịch thanh toán.
Sự điều chỉnh này xuất phát từ thực tế quy định cũ dễ khiến các đơn vị hiểu lầm một hệ thống bắt buộc phải tích hợp đủ cả 4 bước (xử lý, chuyển mạch, bù trừ, quyết toán).
Trong khi đó tại Việt Nam, rất ít hệ thống có đủ toàn bộ các bước này. Ví dụ, hệ thống của NAPAS thực hiện chuyển mạch, bù trừ nhưng không quyết toán mà qua NHNN; hoặc hệ thống của ngân hàng thương mại vận hành chỉ để quyết toán chứng khoán chứ không xử lý, bù trừ.



