A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đột phá theo Nghị quyết 57: Lấy kết quả làm thước đo trong quản lý khoa học và công nghệ

Một năm sau khi thực hiện hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ đang từng bước chuyển từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển. Với định hướng cụ thể từ Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, mô hình quản trị kiến tạo mà Bộ đang hướng tới sẽ được triển khai quyết liệt hơn theo hướng quản lý theo hiệu quả trên nền tảng số.

* Tăng trách nhiệm, đổi mới cách điều hành

Sau hợp nhất, tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học và Công nghệ đã được tinh gọn đáng kể; hoạt động chỉ đạo, điều hành cũng được tăng cường rõ rệt. Bộ trưởng đã ban hành 90 thông báo kết luận với 263 nội dung chỉ đạo quan trọng trên nhiều lĩnh vực; trong đó, ba nhóm nhiệm vụ được ưu tiên là đổi mới quản trị nội bộ, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển khoa học - công nghệ.

Cùng với đó, phương thức làm việc trong Bộ cũng có nhiều thay đổi. Một số quy trình công việc đã bắt đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao hiệu quả xử lý và hỗ trợ ra quyết định; nguyên tắc “ba công khai” gồm công khai tiến độ, công khai trách nhiệm và công khai kết quả được triển khai nhằm tăng cường kỷ luật, nâng cao hiệu quả thực thi trong toàn hệ thống. Các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã ghi nhận những tín hiệu tích cực. Doanh thu toàn ngành tăng khoảng 25%, đóng góp của lĩnh vực này vào GDP tăng hơn 35%.

Riêng đối với mô hình quản trị kiến tạo lĩnh vực đổi mới sáng tạo, theo ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã quy định khung về thử nghiệm có kiểm soát công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ đã quy định chính sách Nhà nước mua và phổ biến công nghệ theo các hình thức miễn phí, ưu đãi hoặc cấp quyền sử dụng có điều kiện. Các quy định trên đã chuyển đổi tư duy quản lý sang quản trị kiến tạo, thúc đẩy và đồng hành rút ngắn thời gian tiếp cận công nghệ tiên tiến, giảm chi phí đổi mới cho doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy nhanh quá trình ứng dụng, thương mại hóa công nghệ và hình thành các động lực tăng trưởng mới một cách liên tục, bền vững.

Việc quản lý các chương trình, nhiệm vụ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Bộ cũng đang được triển khai từ quản lý quy trình sang quản lý theo mục tiêu và kết quả đầu ra. Trước đây quản lý khoa học còn nặng kiểm soát đầu vào, thì nay chuyển sang đo bằng hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động thực tiễn. Các nhiệm vụ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo được giao theo bài toán cụ thể, gắn với năng suất, tăng trưởng và năng lực cạnh tranh, đồng thời được quản lý thống nhất trên một nền tảng số số quốc gia.

Ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia đánh giá, mô hình quản trị kiến tạo trong lĩnh vực chuyển đổi số được triển khai theo hướng Nhà nước không làm thay mà tập trung hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, hạ tầng dùng chung và cơ chế điều phối để dẫn dắt phát triển. Bộ ưu tiên xây dựng chính sách linh hoạt, tháo gỡ điểm nghẽn về nền tảng số, tiêu chuẩn kỹ thuật và thử nghiệm công nghệ mới; tăng cường phân cấp gắn với giám sát, đánh giá theo kết quả đầu ra.

Trong điều hành, cách làm này đòi hỏi chuyển mạnh từ xử lý thủ tục sang quản trị theo dữ liệu, theo thời gian thực, lấy người dân, doanh nghiệp và cơ quan thực thi làm trung tâm. Trong hỗ trợ các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bộ sẽ đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái: thúc đẩy chia sẻ hạ tầng, dữ liệu và nền tảng; hỗ trợ thí điểm mô hình mới, qua đó tạo môi trường thuận lợi để công nghệ số đi vào thực tiễn nhanh hơn, hiệu quả hơn.

* Chuyển đổi từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, mô hình quản trị kiến tạo mà Bộ Khoa học và Công nghệ đang hướng tới, thông qua xây dựng các cơ chế, chính sách, được triển khai cụ thể qua các trụ cột chính. Cụ thể, đối với việc chuyển đổi từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, Nhà nước quản lý hoạt động khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chủ yếu theo nguyên tắc hậu kiểm, tập trung đánh giá kết quả thực hiện thay vì can thiệp sâu vào phương pháp hay quy trình thực hiện. Mô hình này bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình cao nhất cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân.

Cơ chế chấp nhận rủi ro và chia sẻ rủi ro là bước đột phá trong tư duy quản trị kiến tạo. Nhà nước thiết lập cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đầu tư mạo hiểm: Tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước không phải hoàn trả kinh phí nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình nhưng kết quả không đạt mục tiêu đề ra. Cơ chế này giúp xóa bỏ tâm lý e ngại thất bại, khuyến khích các ý tưởng đột phá và mạo hiểm trong sáng tạo công nghệ.

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị hành chính, Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung xây dựng và vận hành Nền tảng số quản lý khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia. Hệ thống này giúp theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu quả triển khai hoạt động trên phạm vi toàn quốc một cách minh bạch, dữ liệu từ nền tảng này là căn cứ để điều chỉnh kế hoạch, phương án phân bổ ngân sách nhà nước cho các giai đoạn tiếp theo.

Đối với cơ chế tài chính và xử lý tài sản linh hoạt, kiến tạo, mô hình quản trị mới cắt giảm các thủ tục hành chính rườm rà thông qua việc giao quyền tự động. Theo đó, Nhà nước tự động giao quyền quản lý, sử dụng và quyền sở hữu kết quả nghiên cứu/tài sản trang bị cho tổ chức chủ trì nhiệm vụ mà không cần thực hiện các thủ tục giao quyền hay bồi hoàn chi phí phức tạp; đồng thời, khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Khi tổ chức chủ trì cam kết đạt được sản phẩm cuối cùng, họ được quyền tự chủ, tự quyết định việc sử dụng kinh phí và điều chỉnh giữa các khoản mục chi.

Về phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, cam kết thưởng cho tác giả kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tối thiểu 30% lợi nhuận thu được từ việc cho thuê, bán, chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng, tự khai thác, sử dụng kết quả; tối thiểu 30% giá trị của kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định khi góp vốn, hợp tác, liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ hoặc thành lập doanh nghiệp; thưởng cho cá nhân có đóng góp trực tiếp vào hoạt động tổ chức thương mại hóa;

Mô hình kiến tạo lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo. Nhà nước chuyển từ vai trò "quản lý" sang "dẫn dắt và kiến tạo" môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp. Trong đó, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học và công nghệ thông qua các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất vay và tài trợ nhiệm vụ tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài; chính sách tạo lập thị trường, hướng đến thương mại hóa các sản phẩm, nghiên cứu cho doanh nghiệp; xây dựng hạ tầng dùng chung như các phòng thí nghiệm, cơ sở thực nghiệm… để thu hút doanh nghiệp cùng khai thác, vận hành.

Đối với cơ chế đặt hàng, Nhà nước đóng vai trò là "Người mua hàng đầu tiên" thông qua đặt hàng các nghiên cứu, sản phẩm, công nghệ chiến lược để giải các bài toán quốc gia.

Về trọng dụng và bảo đảm đãi ngộ cho nhân tài, triển khai cơ chế Tổng công trình sư cho các chương trình, nhiệm vụ đặc biệt với mức lương thỏa thuận và các ưu đãi đặc thù về nhà ở, phương tiện đi lại. Nhà nước áp dụng chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với nhân tài dựa trên tiêu chí và minh chứng cụ thể mà không cần thủ tục công nhận danh hiệu chính thức.

Bên cạnh đó, đề xuất các giải pháp, hướng dẫn các địa phương tổ chức triển khai các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số; hướng dẫn triển khai xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh để giải các bài toán và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế địa phương thông qua trình tự: từ bài toán lớn/vấn đề thực tế đến sản phẩm cụ thể, công nghệ giải quyết; triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) kinh tế tầm thấp tại địa phương để phát triển kinh tế; hướng dẫn xác định các công nghệ, sản phẩm công nghệ gắn với các bài toán lớn, tác động đến GRDP của địa phương; giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông.

Sau một năm hợp nhất, việc chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị kiến tạo của Bộ Khoa học và Công nghệ không chỉ là thay đổi phương thức điều hành mà còn là bước chuyển về tư duy phát triển. Với việc mở rộng quyền tự chủ, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ thực sự trở thành động lực then chốt, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới./.

Thu Phương


Tác giả: Nguyễn Thu Phương B
Nguồn:TTXVN Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết