A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng trưởng cao và bài toán nguồn lực phát triển

Đặt mục tiêu tăng trưởng cao cho giai đoạn phát triển tới, Việt Nam đứng trước bài toán không chỉ cần thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là tái cơ cấu cách huy động và phân bổ nguồn lực. TS. Cấn Văn Lực - Uỷ viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ & Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV – chia sẻ những phân tích trọng tâm về vấn đề này với Báo Nhà báo và Công luận.

+ Thưa ông, chúng ta đang đặt ra những mục tiêu rất cao cho giai đoạn phát triển mới 2026 - 2030. Mô hình tăng trưởng hiện nay khó đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững. Cần lựa chọn mô hình tăng trưởng nào cho giai đoạn tới?

- Vấn đề không chỉ nằm ở việc đặt mục tiêu tăng trưởng bao nhiêu, quan trọng hơn là tăng trưởng bằng cách nào, dựa trên nền tảng nào. Nếu không thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng và cách phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn lực, thì mục tiêu cao rất dễ trở thành áp lực, thậm chí tạo rủi ro cho ổn định kinh tế vĩ mô.

Bước vào chu kỳ phát triển mới, để hiện thực hóa mục tiêu chúng ta buộc phải xác lập một mô hình tăng trưởng mới, tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, bao trùm và có khả năng chống chịu trước các cú sốc. Tăng trưởng không thể tiếp tục phụ thuộc nặng vào đầu tư như hiện nay, trong khi dư địa về vốn và lao động đều đang thu hẹp.

zfzz(1).jpg

TS. Cấn Văn Lực. Ảnh: H.L.

Mô hình phát triển mới cần hội tụ bốn yếu tố then chốt: tăng trưởng nhanh đi đôi với bền vững; nâng cao năng suất, cải cách, ứng dụng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo; huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Đây là điều kiện tiên quyết để tăng trưởng nhanh nhưng vẫn bền vững, bao trùm và có khả năng chống chịu trước những biến động ngày càng lớn của kinh tế thế giới.

+ Trong quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng đó, có ý kiến khuyên Việt Nam nên đi theo mô hình 3i với lộ trình tuần tự, như nhiều nước trước đây: Từ đầu tư, đến tiếp thu công nghệ, rồi mới tiến tới đổi mới sáng tạo. Quan điểm của ông?

- Cách tiếp cận tuần tự từng phù hợp trong quá khứ, nhưng đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế. Nếu cứ đi theo lộ trình tăng vốn đầu tư trước, rồi nhập khẩu và hấp thụ công nghệ, sau đó mới đổi mới sáng tạo thì sẽ rất chậm. Đi như thế đến bao giờ mới bắt kịp các nước đi trước.

Theo tôi ta phải đi tắt, đón đầu, làm đồng thời và kết hợp cả ba yếu tố “i” đó (đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo) cùng một lúc. Điều này đòi hỏi cải cách thể chế mạnh mẽ hơn, môi trường kinh doanh thuận lợi hơn và chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo thực chất hơn. Chỉ khi đó, mô hình tăng trưởng mới mới có thể vận hành hiệu quả.

+ Mục tiêu cao rất tham vọng được đặt ra thể hiện khát vọng rất lớn. Theo ông, mức độ khả thi của mục tiêu khát vọng đó đến đâu?

- Mục tiêu cao được đặt ra trong bối cảnh không ít thách thức: kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, rủi ro và bất định gia tăng; nền kinh tế trong nước còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu và FDI; tỷ lệ nội địa hóa còn thấp; năng lực cạnh tranh chưa có đột phá; tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét; trong khi dân số đang già hóa nhanh (thời kỳ dân số vàng của Việt Nam dự báo sẽ kết thúc vào năm 2036). Mục tiêu cao đó, khả thi không, hãy nhìn vào 2 kịch bản chúng tôi xây dựng cho giai đoạn 2026 - 2030. Kịch bản cơ sở là tăng trưởng bình quân khoảng 9%/năm với quy mô GDP đến năm 2030 năm đạt khoảng 671 tỷ USD và GNI bình quân đầu người đạt khoảng 7.500 USD.

Kịch bản phấn đấu là tăng trưởng 10%/năm, với yêu cầu rất cao về cải cách và huy động, phân bổ nguồn lực. Quy mô GDP đến năm 2030 sẽ đạt khoảng 691 tỷ USD và GNI bình quân đầu người đạt khoảng gần 8.000 USD.

Tiếp đó, về dài hạn, giai đoạn 2031 - 2045, nếu tăng trưởng GDP tăng khoảng 8%/năm thì quy mô GDP đến năm 2045 có thể đạt trên 1.500 tỷ USD, GNI bình quân đầu người đạt khoảng 21.700 - 22.900 USD (vượt ngưỡng dưới của quốc gia có thu nhập cao, đã tính đến yếu tố trượt giá).

hp1.jpg

Để tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần tái cơ cấu cách huy động và phân bổ nguồn lực. Ảnh: H.Anh.

+ Tăng trưởng hai chữ số không thể đạt được và càng không thể bền vững nếu Việt Nam không tái cơ cấu sâu sắc nền kinh tế. Ông nhấn mạnh đến trọng tâm nào trong lần tái cấu trúc này?

- Triển khai trong thời gian dài và cần tiếp tục đẩy mạnh trong thời gian tới. Cơ cấu lại nền kinh tế cần được nhìn nhận theo hướng tiệm tiến, thực hiện thường xuyên và liên tục, thay vì tái cơ cấu mạnh mẽ như giai đoạn từ năm 2011, khi nền kinh tế đối mặt với nhiều bất ổn. Điều quan trọng là phải làm đúng trọng tâm và kiên trì. Tôi quan tâm nhiều tới cải thiện năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), thông qua đổi mới công nghệ, cải cách thể chế, nguồn nhân lực gắn với cải cách đầu tư công, ngân sách Nhà nước và thị trường tài chính.

Đầu tư công vẫn là một động lực quan trọng, nhưng vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở quy mô mà là chất lượng và cơ cấu đầu tư. Cơ cấu đầu tư công hiện nay còn thiên nhiều về hạ tầng truyền thống. Đường, cầu, cảng là cần thiết, nhưng đã đến lúc phải điều chỉnh mạnh mẽ theo hướng tăng đầu tư cho những lĩnh vực tạo ra năng suất dài hạn cho nền kinh tế. Cần giảm tỷ trọng đầu tư cho hạ tầng giao thông trong đầu tư công và tăng đầu tư cho giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, y tế và ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh. Đây là điều kiện then chốt để nâng cao năng suất và bảo đảm phát triển bao trùm và bền vững.

Hiện khoảng 80% vốn đầu tư công được phân bổ cho cơ sở hạ tầng; giai đoạn tới, tỷ trọng đầu tư công cho hạ tầng nên giảm xuống còn khoảng 55 - 60%. Trong phần đầu tư hạ tầng, nên giảm tỷ trọng đầu tư cho giao thông để dồn đầu tư cho các hạ tầng bền vững, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, y tế, giáo dục và khoa học công nghệ…

+ Để đạt tăng trưởng cao, cần một nguồn tài lực rất lớn. Nhưng có phải vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là “cần bao nhiêu vốn”, mà là huy động và phân bổ?

- Nhu cầu vốn cho tăng trưởng cao là rất lớn, để đạt mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần duy trì mức đầu tư toàn xã hội tối thiểu khoảng 38 - 39% GDP giai đoạn 2026 - 2030, tương đương huy động 250 - 260 tỷ USD/năm (chưa tính đến vốn dành cho ứng phó biến đổi khí hậu và thúc đẩy chuyển đổi xanh). Nhưng điều đáng lo hơn là cấu trúc cung ứng và phân bổ vốn hiện nay còn nhiều bất cập. Thị trường tài chính hiện mất cân đối, phần lớn vốn đầu tư toàn xã hội vẫn từ tín dụng ngân hàng (chiếm khoảng 50 - 52%), trong khi đó dư nợ tín dụng cuối năm 2025 ước lên tới 147% GDP và dự kiến có thể vọt lên 190% GDP đến năm 2030 (với tốc độ tăng 16%/năm trong 5 năm tới), tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho an toàn tài chính quốc gia. Thị trường vốn còn nhỏ, vốn hóa thị trường cổ phiếu mới tương đương 82% GDP, đóng góp khoảng 3% tổng vốn đầu tư hàng năm; từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp khoảng 11%, đầu tư công khoảng 16% (với nguồn lực huy động chủ yếu qua thị trường TPCP), giải ngân vốn FDI khoảng 15 - 16% tổng vốn đầu tư. Rõ ràng tái cấu trúc thị trường tài chính là cấp thiết, để huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, giảm rủi ro hệ thống, và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

+ Xin cảm ơn ông!


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết