Sầu riêng trước yêu cầu chuyển từ 'lượng' sang 'chất'
Tăng trưởng "nóng" đang đặt ngành sầu riêng trước bài toán mới gồm kiểm soát vùng trồng, nâng chất lượng, phát triển chế biến và giảm phụ thuộc quả tươi.
Thông tin được đưa ra tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng: Kiến tạo xuất khẩu bền vững” do Báo Tiền Phong tổ chức sáng 20/8 với sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và người trồng sầu riêng.
Tháo gỡ điểm nghẽn mã số vùng trồng
Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sầu riêng là ngành hàng phát triển nhanh trong khoảng 10 năm qua, đặc biệt trong 5 năm gần đây. Năm 2015, diện tích sầu riêng cả nước khoảng 31.000 ha, đến năm 2020 tăng lên hơn 70.000 ha. Giai đoạn 2020-2025, diện tích tiếp tục tăng gần 3 lần, lên khoảng 195.000 ha vào cuối năm 2025. Sản lượng tăng từ khoảng 600.000 tấn năm 2020 lên 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến vượt 2 triệu tấn trong năm 2026.

Toàn cảnh Tọa đàm
Tốc độ tăng trưởng nhanh đưa sầu riêng trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu nổi bật của nông nghiệp Việt Nam, song cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý vùng trồng, chất lượng, giống, sinh vật gây hại và tổ chức sản xuất. Việc mở rộng diện tích tại những khu vực chưa phù hợp với điều kiện sinh thái cũng bộc lộ nhiều bất cập. Những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai đã được Chính phủ tháo gỡ một phần thông qua Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, trong đó có những thay đổi đáng chú ý về cấp và quản lý mã số vùng trồng.
Theo đó, không còn quy định diện tích tối thiểu khi cấp mã số vùng trồng; cho phép cấp mã số đối với cây trồng xen trên cùng thửa đất. Thẩm quyền cấp, giám sát và kiểm tra mã số vùng trồng cũng được phân cấp về cấp xã thay vì cơ quan chuyên môn cấp tỉnh như trước. Quy trình cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được đơn giản hóa, thực hiện trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Việc cải cách thủ tục được kỳ vọng tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý tại cơ sở.
Đây là thay đổi đáng chú ý trong bối cảnh các vùng trồng sầu riêng, đặc biệt tại Tây Nguyên, bước vào chính vụ và yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng ngày càng trở thành điều kiện quan trọng để tiếp cận các thị trường xuất khẩu.
Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, ngày 14/8, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) thông báo cấp thêm mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói cho Việt Nam. Đến nay, Trung Quốc đã cấp tổng cộng 567 mã số, gồm 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói. Việc được cấp thêm mã số tạo điều kiện để các vùng trồng, cơ sở đóng gói chuẩn bị nguồn hàng xuất khẩu trong chính vụ. Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp, giá trị của mã số chỉ được bảo đảm khi đi cùng với quy trình sản xuất, giám sát và truy xuất nguồn gốc thực chất.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Vina T&T Group, ví mã số vùng trồng như “tấm hộ chiếu” của hàng hóa xuất khẩu. Do đó, quản lý mã số phải chặt chẽ nhưng quy trình cũng cần rõ ràng, thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân thực hiện.
Từ tăng sản lượng sang nâng chất lượng, chế biến sâu
Sau giai đoạn diện tích và sản lượng tăng nhanh, ngành sầu riêng được khuyến nghị chuyển trọng tâm sang chất lượng và hiệu quả. Ông Nguyễn Quốc Mạnh cho rằng, không nên tiếp tục chạy theo mở rộng diện tích, bởi nhiều quốc gia cũng đang tăng tốc phát triển sầu riêng. Nếu sản lượng tăng quá nhanh, nguy cơ dư cung và áp lực cạnh tranh sẽ gia tăng.
Chất lượng cần được kiểm soát xuyên suốt từ giống, quy trình canh tác đến an toàn thực phẩm. Hiện, hơn 90% sầu riêng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu đến từ hai giống Ri6 và Dona. Vì vậy, nghiên cứu, phát triển thêm các giống có chất lượng tốt, phù hợp thị trường là hướng cần được quan tâm nhằm đa dạng hóa sản phẩm và nâng sức cạnh tranh. Cùng với đó, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại phải được thực hiện ngay từ vùng sản xuất, thay vì chờ đến khâu thu hoạch, đóng gói hoặc xuất khẩu mới kiểm tra.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đình Tùng cho rằng, chất lượng sầu riêng không chỉ nằm ở quả sầu riêng mà phụ thuộc vào toàn bộ chuỗi từ sản xuất, kiểm nghiệm, logistics đến thông quan. Với đặc thù trái cây tươi, mỗi khâu đều có thể tác động trực tiếp đến khả năng tiêu thụ. Khi phát sinh vấn đề trong kiểm nghiệm hoặc thông quan, hàng hóa có thể phải lưu lại trong thời gian dài, làm gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.
Do đó, phát triển chế biến sâu, đặc biệt là công nghệ cấp đông, được xem là một trong những hướng đi để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu quả tươi. Thực tế, một số sản phẩm sầu riêng cấp đông đã được xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ và các thị trường khác. Việc mở rộng năng lực cấp đông có thể giúp ngành hàng chủ động hơn về thời gian, thị trường và phương thức tiêu thụ.
Cùng với chế biến, chuỗi lạnh và logistics cũng cần được đầu tư tương xứng. Phần lớn sầu riêng hiện vẫn được xuất khẩu bằng đường bộ, trong khi vận tải biển chưa phát triển tương xứng. Việc mở rộng vận tải biển, kết nối dữ liệu giữa cơ quan hải quan hai nước và xây dựng các luồng xử lý thuận lợi hơn có thể góp phần giảm áp lực tại các cửa khẩu phía Bắc.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, kiến nghị tăng năng lực kiểm nghiệm ngay tại các vùng sản xuất tập trung. Việt Nam hiện có 50 cơ sở kiểm nghiệm được Trung Quốc công nhận, song tại các vùng sản xuất lớn như Tây Nguyên vẫn thiếu cơ sở kiểm nghiệm. Việc phải vận chuyển mẫu đi xa, chờ kết quả trong thời gian dài làm tăng chi phí và ảnh hưởng tiến độ xuất khẩu. Vì vậy, nâng năng lực kiểm nghiệm tại vùng nguyên liệu là yêu cầu cần được tính toán cùng với quy hoạch sản xuất và phát triển logistics.

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) chia sẻ tại Tọa đàm.
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong 6 tháng đầu năm, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 1,07 triệu tấn sầu riêng. Thái Lan là nguồn cung lớn nhất với hơn 800.000 tấn, tiếp theo là Việt Nam với khoảng 238.000 tấn. Sầu riêng Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 846 triệu USD trong nửa đầu năm. Tuy nhiên, sản lượng xuất khẩu của Thái Lan vẫn cao hơn gần 4 lần Việt Nam. Điều này cho thấy, dư địa thị trường còn lớn nhưng cạnh tranh cũng ngày càng rõ nét.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường trọng điểm, song theo ông Trần Thanh Hải, Việt Nam cần chủ động khai mở thêm các thị trường mới. Với đặc thù trái cây tươi, việc mở rộng thị trường cần gắn với tìm hiểu tập quán tiêu dùng, xây dựng thương hiệu và tăng cường thông tin tới người tiêu dùng. Bên cạnh xuất khẩu chính ngạch, thương mại điện tử và các nền tảng số cũng có thể mở thêm kênh tiêu thụ. Tuy nhiên, nền tảng quan trọng vẫn là truy xuất nguồn gốc thực chất, có khả năng quản lý xuyên suốt từ vùng trồng, chế biến, đóng gói đến phân phối.
Một yêu cầu khác là thúc đẩy công nhận lẫn nhau về kiểm dịch, mở rộng xuất khẩu bằng đường biển và hoàn thiện chuỗi lạnh tại vùng nguyên liệu. Việc đầu tư kho lạnh, cơ sở kiểm nghiệm, cơ sở kiểm dịch và nhà máy chế biến sâu cần được đặt trong tổng thể phát triển ngành hàng. Để thu hút đầu tư, các doanh nghiệp cũng đề xuất có chính sách tín dụng phù hợp cho các dự án kho lạnh, chế biến và logistics, với thời hạn vay đủ dài để doanh nghiệp có khả năng hoàn vốn.
Về tổ chức sản xuất, theo các chuyên gia trong ngành, liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người trồng cần đi vào thực chất hơn. Các hộ sản xuất nhỏ lẻ khó tự đáp ứng đầy đủ yêu cầu về sản lượng, tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào tổ chức vùng nguyên liệu, định hướng quy trình kỹ thuật và kết nối thị trường; chính quyền địa phương hỗ trợ rà soát, quản lý và xây dựng các vùng sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn. Từ góc độ này, hướng đi của ngành sầu riêng không còn là mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà là nâng chất lượng, kiểm soát vùng trồng, tăng tỷ trọng chế biến và xây dựng chuỗi xuất khẩu chuyên nghiệp. Đây cũng là nền tảng để sầu riêng Việt Nam duy trì vị thế tại các thị trường lớn và từng bước đa dạng hóa thị trường tiêu thụ.
Sầu riêng là một trong những cây trồng chủ lực của ngành trồng trọt Việt Nam, đồng thời là ngành hàng có tốc độ phát triển nhanh trong 10 năm qua, đặc biệt tăng mạnh trong 5 năm gần đây. Năm 2015, diện tích sầu riêng cả nước chỉ khoảng 31.000 ha, đến năm 2020 tăng lên hơn 70.000 ha. Giai đoạn 2020-2025, diện tích tiếp tục tăng gần 3 lần, đạt khoảng 195.000 ha vào cuối năm 2025. Cùng với đó, sản lượng tăng từ khoảng 600.000 tấn năm 2020 lên 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến vượt 2 triệu tấn trong năm 2026.




