A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sắp vận hành sàn tài sản mã hóa, Việt Nam còn “khoảng trống” về chứng chỉ hành nghề

Việt Nam đang hoàn thiện những bước cuối cùng để đưa thị trường tài sản số vào khuôn khổ quản lý chính thức. Trong quá trình này, kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước cho thấy ba yếu tố then chốt cần được xây dựng đồng bộ là pháp lý, chuẩn hóa hành nghề và quy tắc đạo đức.

Thế giới quản lý thị trường tài sản số như thế nào?

Theo báo cáo của Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam, quy mô thị trường tài sản mã hóa toàn cầu đã có thời điểm đạt khoảng 4.000 tỷ USD trong giai đoạn 2024 - 2026 và hiện duy trì ổn định ở mức trên 2.000 tỷ USD. Thị trường này hiện có khoảng 700 triệu người dùng trên toàn thế giới.

Trong đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng khối lượng giao dịch tài sản mã hóa. Đáng chú ý, nhiều quốc gia ghi nhận mức tăng trưởng rất cao về khối lượng giao dịch. Hàn Quốc dẫn đầu với mức tăng 100%, tiếp theo là Ấn Độ tăng 99%, trong khi Việt Nam cũng đạt mức tăng trưởng ấn tượng 55%.

Trên thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới đã sớm công nhận tài sản mã hóa là một loại tài sản hợp pháp và xây dựng khung pháp lý riêng để quản lý lĩnh vực này.

Tại Liên minh châu Âu, cơ quan quản lý lựa chọn xây dựng hành lang pháp lý từ sớm, trước khi thị trường phát triển quá nóng. EU không chỉ đặt ra các yêu cầu về năng lực chuyên môn đối với nhân sự trong ngành mà còn luật hóa các tiêu chuẩn về truyền thông và công bố thông tin nhằm tăng tính minh bạch cho thị trường.

Trong khi đó, Nhật Bản được xem là quốc gia duy nhất hiện nay có tổ chức tự quản trong lĩnh vực tài sản mã hóa được Nhà nước trao quyền chế tài chính thức. Hiệp hội Sàn giao dịch Tài sản ảo và Mã hóa Nhật Bản được Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản (FSA) công nhận là tổ chức tự quản từ năm 2018.

Cơ quan này có quyền thẩm định các tài sản mã hóa mới trước khi được niêm yết trên các sàn giao dịch thành viên, đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý đối với tổ chức vi phạm.

Tại ASEAN, Singapore cũng được xem là hình mẫu trong quản lý tài sản số khi triển khai đồng thời việc hoàn thiện khung pháp lý và chuẩn hóa nguồn nhân lực. Quốc gia này không cấp phép cho doanh nghiệp hoạt động nếu chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về đội ngũ nhân sự được đào tạo và cấp chứng chỉ theo quy định.

Về vấn đề này, ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam cho biết: Dựa trên kinh nghiệm quốc tế có 3 điều cần lưu ý khi phát triển thị trường tài sản số tại Việt Nam.

pdt.jpg

Ông Phan Đức Trung, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam.

Thứ nhất, khung pháp lý phải đi trước thị trường, không chạy theo thị trường. Theo ông Trung, các quốc gia đều xây dựng hành lang pháp lý nền tảng trước khi thị trường tài sản mã hóa phát triển rộng rãi. Khung pháp lý đóng vai trò định hình và dẫn dắt thị trường thay vì chỉ phản ứng với các diễn biến phát sinh.

Thứ hai, hoạt động hành nghề phải được chuẩn hóa thông qua các chứng chỉ chuyên môn bắt buộc. Người tư vấn và môi giới tài sản mã hóa cần đáp ứng các tiêu chuẩn tương đương người hành nghề chứng khoán.

Thứ ba, bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp phải trở thành tầng giám sát đầu tiên của thị trường. Cơ quan quản lý Nhà nước chỉ can thiệp khi các cơ chế tự quản không còn đủ khả năng xử lý vi phạm.

“Nhật Bản là ví dụ điển hình khi Hiệp hội Sàn giao dịch Tài sản ảo và Mã hóa Nhật Bản được Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản công nhận là tổ chức tự quản chính thức từ năm 2018 và được trao quyền giám sát, xử lý các thành viên vi phạm”, ông Trung nói.

Khung pháp lý tại Việt Nam hoàn thiện được 90%

Đối với Việt Nam, ông Phan Đức Trung cho biết đến tháng 5/2026 đã có 5 trong tổng số 7 hồ sơ xin cấp phép sàn giao dịch tài sản mã hóa được Bộ Tài chính phê duyệt. Các sàn dự kiến sẽ đi vào hoạt động chính thức từ quý III/2026.

Song song với đó, Việt Nam cũng đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tài sản số, trong đó có dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này.

Theo ông Trung, hiện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính đã xây dựng được khoảng 85-90% khung pháp lý cần thiết cho thị trường tài sản mã hóa. Nhiều quy định quan trọng đã được xác lập, bao gồm cấm tư vấn không phép; cấm người có ảnh hưởng (KOL) đưa ra cam kết lợi nhuận không có căn cứ hoặc không công bố đầy đủ quan hệ lợi ích; yêu cầu minh bạch trong niêm yết tài sản; công khai các xung đột lợi ích; đồng thời nghiêm cấm các hành vi thao túng giá, giao dịch nội gián và lợi dụng thông tin nội bộ để trục lợi.

Tuy nhiên, theo ông Trung, Việt Nam vẫn còn khoảng trống ở hai lĩnh vực quan trọng là chuẩn hóa hoạt động hành nghề và xây dựng bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp.

Vì vậy, ông kiến nghị xây dựng hệ thống chứng chỉ hành nghề tài sản mã hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Cụ thể, có thể mở rộng phạm vi áp dụng của hệ thống chứng chỉ hành nghề chứng khoán hiện hành sang lĩnh vực tài sản mã hóa, đồng thời tham khảo mô hình chứng chỉ của Singapore và bộ tiêu chuẩn của Liên minh châu Âu.

Bên cạnh đó, ông Trung đề xuất xây dựng Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho lĩnh vực tài sản số và thiết lập diễn đàn đối thoại liên ngành thường niên.

“Chúng tôi sẽ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu xây dựng bộ quy tắc đạo đức tham chiếu theo chuẩn quốc tế. Đồng thời, một diễn đàn đối thoại liên ngành định kỳ hai lần mỗi năm cũng được đề xuất nhằm tăng cường trao đổi chính sách, chia sẻ kinh nghiệm và kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình phát triển thị trường tài sản số”, ông nói.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết