Ngoại giao kinh tế: Động lực nâng tầm vị thế kinh tế Việt Nam sau 81 năm độc lập
GS.TS Đặng Đình Đào nhấn mạnh, ngoại giao kinh tế đã góp phần mở rộng không gian phát triển, nâng tầm vị thế Việt Nam và tạo động lực cho tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với NGƯT, GS.TS Đặng Đình Đào, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân về những đóng góp của ngoại giao kinh tế đối với quá trình hội nhập quốc tế, nâng tầm vị thế kinh tế Việt Nam sau hơn bốn thập niên Đổi mới, cũng như các yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

NGƯT, GS.TS Đặng Đình Đào, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân
Ngoại giao kinh tế mở đường cho bước chuyển về vị thế
- Sau 81 năm kể từ ngày giành độc lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia hơn 70 tổ chức quốc tế, đã tham gia và thực thi 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Giáo sư đánh giá như thế nào về những thành tựu nổi bật đó?
GS.TS Đặng Đình Đào: Nhìn từ những con số, có thể thấy thành tựu phát triển của Việt Nam trong hơn bốn thập niên qua là hết sức ấn tượng. Năm 1986, khi công cuộc Đổi mới bắt đầu, tổng kim ngạch ngoại thương của cả nước mới đạt gần 3 tỷ USD, trong đó xuất khẩu khoảng 789 triệu USD. Đến năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu dự kiến đạt khoảng 1.060 tỷ USD, đưa Việt Nam tiến gần nhóm các nền kinh tế có quy mô thương mại hàng đầu thế giới. Điều này đã phản ánh bước chuyển mạnh mẽ về vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.
Từ một nền kinh tế có mức độ hội nhập quốc tế còn hạn chế, đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tính đến tháng 1/2026, Việt Nam đã có 15 Đối tác Chiến lược Toàn diện. Các FTA mà Việt Nam tham gia hiện phủ hơn 60 nền kinh tế, chiếm khoảng 90% GDP toàn cầu.
Một dấu mốc đáng chú ý gần đây là tháng 7/2026, Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein đã ra Tuyên bố chung kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA sau gần 14 năm theo đuổi. Kết quả này mở đường để Việt Nam nâng tổng số FTA lên 18 hiệp định, đồng thời hoàn thiện thêm một mắt xích quan trọng trong mạng lưới liên kết kinh tế, thương mại với châu Âu.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân dẫn đầu đoàn đàm phán Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng các nước EFTA tại Iceland
Tuy nhiên, thành tựu của quá trình hội nhập không chỉ được phản ánh qua tăng trưởng xuất nhập khẩu hay việc mở rộng thị trường bên ngoài. Một phương diện quan trọng khác là sự phát triển mạnh mẽ của thị trường trong nước. Nếu như tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng những năm đầu Đổi mới còn ở quy mô khiêm tốn thì đến năm 2026 dự kiến đạt khoảng 7,88 triệu tỷ đồng. Cùng với việc dân số vượt ngưỡng 100 triệu người, Việt Nam đang sở hữu một thị trường nội địa có quy mô lớn và tiềm năng phát triển ngày càng mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, quy mô thương mại hay số lượng FTA chưa phải là thước đo duy nhất của thành công. Hiệu quả khai thác các FTA và năng lực cạnh tranh của hệ thống logistics mới là những chỉ báo phản ánh chất lượng hội nhập. Hiện nay, chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức tương đối cao so với bình quân thế giới và nhiều nước trong khu vực. Vì vậy, nâng cao hiệu quả logistics được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới. Theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu đặt ra là từng bước giảm tỷ trọng chi phí logistics xuống còn khoảng 12 - 15% GDP trong giai đoạn 2025 - 2035.
Nhìn lại chặng đường 81 năm kể từ ngày đất nước giành độc lập, đặc biệt là 40 năm Đổi mới, tôi cho rằng những thành tựu mà Việt Nam đạt được là hết sức to lớn. Từ một nền kinh tế có quy mô nhỏ, năng lực hội nhập còn hạn chế, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở cao hàng đầu thế giới. Đó là kết quả của đường lối phát triển đúng đắn, của quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và của vai trò mở đường, kết nối nguồn lực phát triển của công tác đối ngoại, ngoại giao kinh tế trong suốt nhiều thập kỷ qua.
Những dấu mốc tạo nền tảng cho tiến trình hội nhập
- Thưa Giáo sư, những dấu mốc và yếu tố nào có ý nghĩa quyết định đối với quá trình Việt Nam từng bước nâng cao vị thế trên trường quốc tế?
GS.TS Đặng Đình Đào: Theo tôi, cần nhìn nhận quá trình này trong một dòng chảy liên tục, bắt đầu từ những bước chuyển về tư duy phát triển trước cả thời điểm Đổi mới năm 1986. Một trong những dấu mốc đáng chú ý là Quyết định số 25-CP của Hội đồng Chính phủ ban hành năm 1981 về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Đây có thể xem là một bước thử nghiệm quan trọng, góp phần hình thành những tiền đề tư duy cho công cuộc Đổi mới sau này.
Tuy nhiên, dấu mốc mang tính bước ngoặt là năm 1991, khi Đại hội VII của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời khẳng định chủ trương “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Tuyên bố đó đã thể hiện sự đổi mới trong tư duy đối ngoại, đồng thời mở ra một giai đoạn hội nhập ngày càng sâu rộng của đất nước.
Trên nền tảng đó, Việt Nam từng bước triển khai lộ trình mở cửa và hội nhập với những cột mốc quan trọng như gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995, thực thi Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) từ năm 2001, tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 và sau đó là hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA hay RCEP. Những bước đi này đã tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời, giúp Việt Nam tích lũy năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm hội nhập và từng bước nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (thứ hai, từ phải sang), Tổng Thư ký ASEAN và các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại cuộc họp kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ bảy của ASEAN, ngày 28/7/1995, tại Thủ đô Bandar Seri Begawan (Brunei). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Gần đây, vai trò của ngoại giao kinh tế tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ. Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 10/8/2022 của Ban Bí thư xác định ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trung tâm của nền ngoại giao Việt Nam phục vụ phát triển đất nước. Tiếp đó, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhấn mạnh yêu cầu phát huy hội nhập quốc tế như một động lực chiến lược, tranh thủ hiệu quả các nguồn lực và điều kiện thuận lợi từ bên ngoài để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
Nếu phải chỉ ra yếu tố quyết định, tôi cho rằng có ba nhóm: một là bản lĩnh đổi mới tư duy đối ngoại, dám tuyên bố làm bạn với tất cả các nước, phá thế bao vây cô lập; hai là cách làm có lộ trình, có bước đi, mở cửa từng lĩnh vực, từng cấp độ cam kết, không nóng vội nhưng cũng không chậm trễ; ba là sự đóng góp bền bỉ của ngành thương mại và logistics trong việc biến các cơ hội thị trường mà ngoại giao mở ra thành dòng chảy hàng hóa, dòng vốn thực sự, cả ở chiều xuất nhập khẩu lẫn phát triển thị trường nội địa.
Tạo động lực mới để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số
- Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo Giáo sư, ngoại giao kinh tế Việt Nam cần tạo ra những động lực mới nào để mở rộng không gian phát triển và tiếp tục nâng cao vị thế kinh tế đất nước?
GS.TS Đặng Đình Đào: Theo tôi, trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số một cách bền vững, đồng thời tiếp tục nâng cao vị thế kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trước hết, ngoại giao kinh tế cần góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững và có khả năng thích ứng cao trước những biến động của môi trường kinh tế toàn cầu. Các thị trường lớn và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe liên quan đến phát triển bền vững, chuyển đổi xanh, tiêu chuẩn môi trường, lao động và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, ngoại giao kinh tế cần phát huy vai trò tiên phong trong việc nắm bắt xu thế, tham gia định hình các khuôn khổ hợp tác mới, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Hai là cần khai thác hiệu quả cả hai động lực tăng trưởng là thị trường quốc tế và thị trường trong nước. Với quy mô dân số hơn 100 triệu người và sức mua ngày càng gia tăng, thị trường nội địa đang trở thành một nguồn lực phát triển quan trọng. Ngoại giao kinh tế không chỉ hướng tới mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn cần góp phần thu hút nguồn vốn, công nghệ, tri thức quản trị hiện đại nhằm nâng cao năng lực của thị trường trong nước, tăng cường kết nối giữa sản xuất, phân phối và tiêu dùng theo các chuẩn mực của chuỗi giá trị toàn cầu.

Ngoại giao kinh tế góp phần mở rộng không gian thị trường, thu hút nguồn lực bên ngoài và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ba là nâng cao hiệu quả khai thác các hiệp định thương mại tự do đã ký kết. Sau giai đoạn mở rộng mạng lưới FTA, yêu cầu hiện nay là chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng thực thi, gia tăng tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan, đáp ứng tốt hơn các quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu phòng vệ thương mại. Trong quá trình này, vai trò của Bộ Công Thương cần tiếp tục được phát huy thông qua công tác đàm phán, thực thi cam kết quốc tế, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ từng hiệp định.
Bốn là phát triển đồng bộ hạ tầng và thể chế thương mại, logistics. Hệ thống logistics hiện đại không chỉ góp phần giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn quyết định khả năng chuyển hóa các cơ hội do hội nhập và ngoại giao kinh tế mang lại thành kết quả tăng trưởng thực chất.
Năm là cần tiếp tục nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và có khả năng liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước. Đây là cơ sở để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, gia tăng hàm lượng giá trị gia tăng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
- Xin chân thành cảm ơn ông!
GS, TS Đặng Đình Đào nhấn mạnh, trong giai đoạn tới, động lực mới của ngoại giao kinh tế cần hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng, gia tăng nội lực của nền kinh tế và đưa quá trình hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn.




