A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số tạo đột phá tăng trưởng nông nghiệp

Tại Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường khu vực phía Bắc vừa được tổ chức

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số tạo đột phá tăng trưởng nông nghiệp
Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy ngành nông nghiệp và môi trường tăng trưởng bền vững. Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI

Chuyển hóa thành tựu khoa học thành giá trị kinh tế

Tại Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường khu vực phía Bắc vừa được tổ chức, các đại biểu Hội nghị đã tập trung nhận diện dư địa tăng trưởng, đánh giá những hạn chế trong ứng dụng công nghệ và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Những đóng góp của các đại biểu với trọng tâm là đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, qua đó tạo động lực tăng trưởng mới cho toàn ngành trong giai đoạn 2026-2030.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, 9 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 4,02%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Đây là kết quả tạo nền tảng để ngành tiếp tục phấn đấu hoàn thành và vượt mục tiêu tăng trưởng, xuất khẩu năm 2026.

Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững ngày càng cao, khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thực tiễn ứng dụng từ chọn tạo giống, công nghệ sinh học đến cơ giới hóa, bảo quản và chế biến đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm tổn thất và cải thiện hiệu quả kinh tế.

Đáng chú ý, việc ứng dụng giống lúa mới và quy trình canh tác tiên tiến giúp nâng năng suất khoảng 9,9%, tăng sản lượng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm, tương ứng giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy, tiến bộ kỹ thuật được triển khai phù hợp với điều kiện sản xuất, nghiên cứu khoa học có thể tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trên quy mô lớn.

Tuy nhiên, để nhân rộng những thành tựu đó, ngành cần giải quyết khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, khu vực phía Bắc có lợi thế về hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học, đội ngũ chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ, nhưng mối liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất vẫn chưa chặt chẽ. Điều này khiến một số kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa tương xứng với tiềm năng.

Các tham luận tại Hội nghị phản ánh nhu cầu đổi mới công nghệ đa dạng theo từng ngành hàng, địa phương, từ sản xuất lúa gạo tại Hưng Yên, cà phê Sơn La, nuôi hàu tại Quảng Ninh, lâm nghiệp Tuyên Quang đến chăn nuôi bò sữa tại Nghệ An. Kinh nghiệm của các doanh nghiệp như Doveco, Dabaco, TH và Woodsland cũng làm rõ những yêu cầu về công nghệ, tổ chức sản xuất và phát triển chuỗi giá trị.

Bên cạnh đó, các cơ sở nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển công nghệ sinh học, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp. Việc xác định đúng nhu cầu thị trường, lựa chọn công nghệ phù hợp và xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả sẽ giúp rút ngắn quá trình chuyển giao, hạn chế tình trạng nghiên cứu tách rời thực tiễn.

Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là gia tăng đầu tư cho khoa học công nghệ mà còn phải đổi mới cách tổ chức thực hiện, lựa chọn những bài toán lớn và công nghệ lõi có khả năng tạo tác động rộng. Khi doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định nhu cầu đến thử nghiệm, tiếp nhận và thương mại hóa, nguồn lực nghiên cứu sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, trực tiếp đóng góp vào năng suất và giá trị gia tăng của ngành.

Chuyển đổi số thúc đẩy minh bạch và kết nối thị trường

Cùng với đổi mới công nghệ sản xuất, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu quan trọng trong quản lý nông sản. Khi thị trường ngày càng coi trọng chất lượng, an toàn thực phẩm và tính minh bạch, dữ liệu không chỉ hỗ trợ cơ quan quản lý giám sát sản phẩm mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, củng cố niềm tin người tiêu dùng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số tạo đột phá tăng trưởng nông nghiệp
Hà Nội quy mô tiêu thụ nông, lâm, thủy sản phục vụ khoảng 10 triệu người.

Tại Hà Nội, với quy mô tiêu thụ nông, lâm, thủy sản phục vụ khoảng 10 triệu người, truy xuất nguồn gốc được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm. Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Bùi Duy Cường cho biết, thành phố có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hơn 1.700 cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản.

Từ năm 2018, Hà Nội triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản tại hanoicheck.hanoi.gov.vn, từng bước đưa công nghệ và dữ liệu vào quản lý sản xuất. Thành phố đã phối hợp với các địa phương hình thành, kiểm soát 1.388 chuỗi cung ứng nông sản, thực phẩm an toàn; phát triển hơn 3.400 sản phẩm OCOP, gắn truy xuất nguồn gốc với liên kết sản xuất và tiêu thụ.

Trong quá trình số hóa hồ sơ, Hà Nội triển khai kết nối dữ liệu với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đăng ký các nhóm sản phẩm ưu tiên phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc. Từ ngày 3/8/2026, hệ thống cơ sở dữ liệu về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm của thành phố chính thức vận hành, tiếp nhận đăng ký tài khoản và hồ sơ trực tuyến.

Thời gian tới, Hà Nội tập trung hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, chuẩn hóa thông tin về cơ sở sản xuất, sản phẩm, lô hàng, chứng nhận và lưu thông hàng hóa; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thành phố cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giám sát, cảnh báo, truy xuất nguồn gốc, đồng thời hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân nâng cao năng lực số.

Thực tiễn này cho thấy, hiệu quả chuyển đổi số không chỉ phụ thuộc vào nền tảng công nghệ mà còn nằm ở chất lượng dữ liệu và mức độ tham gia của các chủ thể. Nếu thông tin giữa các khâu sản xuất, chế biến và phân phối thiếu đồng bộ, việc truy xuất sẽ khó phát huy đầy đủ giá trị. Do đó, chuẩn hóa dữ liệu phải đi cùng quy trình cập nhật thường xuyên, kiểm soát chất lượng và xác định rõ trách nhiệm của từng mắt xích trong chuỗi cung ứng.

Ở quy mô toàn ngành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng đổi mới phương thức quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở nghiên cứu; thúc đẩy liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và thị trường. Cùng với đó là tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách, phát triển dữ liệu phục vụ quản lý sản xuất và kết nối tiêu thụ.

Đặc biệt, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin sản phẩm phải trở thành yêu cầu xuyên suốt đối với tất cả ngành hàng, lĩnh vực. Đây không chỉ là giải pháp bảo đảm an toàn thực phẩm mà còn là điều kiện nâng cao năng lực quản trị, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và gia tăng giá trị thương mại của nông sản.

Giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi ngành nông nghiệp và môi trường chuyển mạnh từ ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang đổi mới đồng bộ toàn chuỗi giá trị. Khi kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, dữ liệu được kết nối và truy xuất nguồn gốc được thực hiện minh bạch, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ tạo động lực nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, thúc đẩy ngành nông nghiệp tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết