Dự thảo chiến lược xuất nhập khẩu: Làm sao để doanh nghiệp Việt không mãi đứng sau FDI?
Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu xuất khẩu tăng bình quân 15-16%/năm, đồng thời nâng tỷ trọng doanh nghiệp trong nước lên 28-30% vào năm 2030.
Xuất nhập khẩu: FDI chiếm ưu thế
Vài năm gần đây, xuất nhập khẩu luôn duy trì đà tăng trưởng 2 con số, tạo thành một động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam. Năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 786,29 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm trước. Sang năm 2025, con số này tiếp tục vượt 930 tỷ USD, tăng hơn 18%.
Theo báo cáo mới nhất của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, trong 10 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng tới 32,3% so với cùng kỳ năm trước.
Cục Thống kê nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên thương mại hàng hóa của Việt Nam vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD, xác lập mức cao nhất từ trước đến nay. Kết quả này phản ánh quy mô giao thương quốc tế ngày càng mở rộng, đồng thời cho thấy vai trò ngày càng lớn của xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, TS Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế cho hay, việc kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD trong năm 2026 đã được dự báo từ trước.
Theo ông, đà tăng trưởng ấn tượng của hoạt động xuất nhập khẩu thời gian qua có đóng góp lớn từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Số liệu 10 tháng năm 2026 cho thấy, ở chiều xuất khẩu, tổng kim ngạch đạt gần 500 tỷ USD. Trong đó, khối FDI chiếm 81,2% tổng kim ngạch, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 18,8%.
Sự chênh lệch này cũng thể hiện ở chiều nhập khẩu. Trong tổng kim ngạch nhập khẩu 511,31 tỷ USD, khu vực FDI chiếm 74,2%, còn doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 25,8%
TS Huỳnh Thanh Điền giải thích, nhờ môi trường đầu tư ổn định, đường lối đối khéo léo và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) ngày càng được mở rộng, Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế.
Chưa kể, cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc khiến một số doanh nghiệp có xu hướng mở rộng hoặc dịch chuyển cơ sở sản xuất sang các quốc gia lân cận nhằm tối ưu chi phí.
“Việt Nam là một trong những điểm đến được lựa chọn nhờ lợi thế về vị trí địa lý, môi trường đầu tư và khả năng kết nối với các thị trường quốc tế”, TS Huỳnh Thanh Điền nói.
Do đó, nhiều doanh nghiệp FDI lựa chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu, qua đó tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng thương mại quốc tế của Việt Nam.

Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu xuất khẩu tăng bình quân 15-16%/năm. Ảnh: VGP.
Mục tiêu đầy “tham vọng”
Với những thành tựu đã đạt được, Bộ Công Thương đang xây dựng Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Dự thảo đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân 15-16%/năm, nhập khẩu tăng 12-13%/năm trong giai đoạn 2026-2030.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, đây được đánh giá là mục tiêu đầy tham vọng, song không phải không có cơ sở để thực hiện.
Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc VIETGO, chuyên gia trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cho hay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là một chỉ số đo lường rất quan trọng, phản ánh sức mạnh của nền kinh tế.
“Muốn trở thành một cường quốc, xây dựng một đất nước hùng mạnh, trước hết, Việt Nam cần có sự tăng trưởng mạnh mẽ về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu”, ông cho biết.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân 15-16%/năm, theo ông Việt, Việt Nam đã có nhiều nền tảng thuận lợi.
Trước hết là những bước đi chiến lược của Chính phủ trong suốt 20 năm qua, đặc biệt là việc mở rộng mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) và triển khai đường lối đối ngoại hiệu quả.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 68 được ban hành năm 2025 đã tạo dấu mốc quan trọng khi khẳng định vai trò, vị thế của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời xác định khu vực kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
“Theo đó, các Bộ, ngành, cơ quan cần tập trung hỗ trợ đội ngũ doanh nghiệp phát triển. Tôi cho rằng đây là một bước đi có ý nghĩa chiến lược của Chính phủ”, ông nói.
Động lực tiếp theo đến từ sự nhanh nhạy và khả năng thích ứng của cộng đồng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang tích cực học hỏi kinh nghiệm từ khối doanh nghiệp FDI, đồng thời làm tốt hơn cả khâu sản xuất lẫn bán hàng.
Đặc biệt, trong khoảng ba đến bốn năm gần đây, chúng ta đã từng bước hình thành được đội ngũ bán hàng của nền kinh tế, chính là các công ty thương mại.
“Đây là những doanh nghiệp không trực tiếp sở hữu nhà xưởng sản xuất mà thu mua hàng hóa từ các cơ sở sản xuất trong nước để xuất khẩu. Sự phát triển của đội ngũ này có ý nghĩa rất tích cực, giúp Việt Nam chủ động hơn trong hoạt động bán hàng và tiếp cận thị trường quốc tế”, ông Việt chia sẻ.
Tạo dư địa để doanh nghiệp nội địa bứt phá
Bên cạnh mục tiêu duy trì đà tăng trưởng, Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 còn nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước và gia tăng hàm lượng chế biến, công nghệ trong hàng hóa xuất khẩu.
Dự thảo đặt mục tiêu tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước phấn đấu đạt khoảng 28% - 30% vào năm 2030, tăng lên 38% - 40% vào năm 2045.
TS Huỳnh Thanh Điền đánh giá, Việt Nam cần nhìn thẳng vào vấn đề giá trị xuất khẩu của khối FDI vượt trội hơn khối doanh nghiệp trong nước, từ đó tìm ra “lời giải” cho mục tiêu này.
Ông phân tích, hiện nay, khu vực doanh nghiệp FDI có xuất siêu, tức giá trị xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước lại nhập siêu, không chỉ nhập máy móc, thiết bị, linh kiện mà còn nhập cả hàng tiêu dùng, kể cả những mặt hàng trong nước có khả năng sản xuất.
“Nếu một phần hàng hóa nhập khẩu được thay thế bằng sản phẩm do doanh nghiệp trong nước làm ra, chúng ta sẽ tạo thêm cơ hội đầu tư, đổi mới công nghệ và việc làm. Người lao động có thu nhập tốt hơn, sức mua tăng lên, từ đó đóng góp trở lại cho tăng trưởng”, ông nói.
Vì vậy, TS Huỳnh Thanh Điền cho rằng, Việt Nam đã thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng cần bước tiếp theo là xây dựng nền tảng sản xuất trong nước đủ mạnh. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì nền kinh tế mới có cơ sở tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Bàn về giải pháp, vị chuyên gia này kiến nghị, Việt Nam cần sử dụng đầu tư công như một công cụ để kích hoạt năng lực sản xuất trong nước.
Hiện nay, Việt Nam đang triển khai nhiều dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin. Khi xây dựng các dự án, cần xác định rõ doanh nghiệp trong nước nào có thể tham gia, doanh nghiệp nào đóng vai trò dẫn dắt và doanh nghiệp nhỏ và vừa nào có thể cung ứng sản phẩm, dịch vụ.
Những sản phẩm doanh nghiệp Việt Nam làm được, thì cần tạo cơ hội để họ tham gia. Chẳng hạn, có thể thiết kế các gói thầu phù hợp, khuyến khích liên danh với doanh nghiệp trong nước và dành tỷ lệ nhất định trong mua sắm công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trên cơ sở tuân thủ các quy định liên quan.
“Nhiều sản phẩm mà hiện nay chúng ta nhập khẩu để phục vụ các công trình, dự án công, theo tôi, doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có thể sản xuất. Vấn đề là cơ hội chưa được trao một cách rõ ràng. Nếu cứ nhập khẩu đầu vào để triển khai dự án cho nhanh, doanh nghiệp trong nước sẽ mất cơ hội đầu tư, làm chủ công nghệ và trưởng thành”, ông nói.




