Phát triển vùng dân tộc thiểu số: Không để ai đứng ngoài hành trình đi lên của đất nước
Một con đường mới, một ngôi trường khang trang hay một sinh kế bền vững được tạo ra không chỉ là những khoản đầu tư vật chất. Đằng sau đó là cơ hội thoát nghèo của một gia đình, tương lai của một đứa trẻ và sinh kế của cả cộng đồng. Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, suy cho cùng, chính là câu chuyện kiến tạo sự công bằng để mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển.
Khi khoảng cách phát triển được nhìn từ cuộc sống của người dân
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Trong thực tế, để sự bình đẳng ấy trở thành những điều người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống hằng ngày, cần có những chính sách đầu tư phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc.

Ngày 19/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cùng các đại biểu tại Phiên họp Tổ và cho ý kiến về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và các Chương trình mục tiêu Quốc gia - Ảnh: Hồ Long
Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030 xác định mục tiêu phát triển toàn diện, nhanh và bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng, từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống và thu nhập, đồng thời phát huy nội lực, tinh thần tự lực của đồng bào.
Tiếp đó, Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hóa Chương trình với 10 dự án và các nội dung thành phần, thực hiện trong giai đoạn 2021–2030, trước mắt là giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025.
Những chủ trương này cho thấy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế hay giảm nghèo, mà ngày càng đòi hỏi phải khơi dậy và phát huy mạnh hơn tiềm năng, lợi thế và nội lực tại chỗ.
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường, việc đưa tri thức, công nghệ, kinh tế số đến với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thể mở thêm những hướng đi mới: từ nâng cao giá trị nông sản, phát triển sản phẩm đặc trưng, du lịch cộng đồng đến mở rộng thị trường qua các nền tảng số. Đây cũng là một trong những hướng quan trọng để chuyển từ hỗ trợ sang tạo cơ hội phát triển, từ phát huy nguồn lực bên ngoài sang đánh thức và nhân lên nội lực của chính cộng đồng.
Đánh giá tổng thể, đây là một chương trình có quy mô lớn, tác động tới nhiều mặt của đời sống: hạ tầng, sản xuất, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa, đào tạo nghề, thông tin và nhiều lĩnh vực khác. Nhưng suy cho cùng, thước đo của chính sách không nằm ở số tiền đã đầu tư hay số công trình đã hoàn thành. Điều quan trọng hơn là cuộc sống của người dân có thay đổi hay không.
Những con số phía sau sự thay đổi
Sau 5 năm thực hiện, Chương trình đã hoàn thành và vượt mức 6/9 nhóm mục tiêu đề ra. Tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt bình quân 3,4%/năm; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt 43,4 triệu đồng/người/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020. Đáng chú ý, tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân và đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đạt 54,8%, cao hơn mục tiêu đề ra là trên 50%.
Những con số ấy cần được nhìn từ đời sống thực tế.
Một con đường được mở không chỉ giúp việc đi lại thuận tiện hơn. Đó còn là con đường đưa nông sản ra thị trường, đưa trẻ em đến trường, giúp người dân tiếp cận dịch vụ y tế và những cơ hội mới.
Một ngôi trường kiên cố không chỉ là thêm một công trình xây dựng. Đó là nơi trẻ em vùng cao có điều kiện học tập tốt hơn, là nền tảng để một thế hệ mới có thêm kiến thức và kỹ năng, từ đó có nhiều lựa chọn hơn cho tương lai.
Một trạm y tế được đầu tư cũng không đơn thuần là thêm cơ sở vật chất. Đó là khả năng để người dân tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngay gần nơi mình sinh sống.
Trong lĩnh vực văn hóa, Chương trình đã hỗ trợ đầu tư, bảo tồn 48 làng, bản và 69 điểm đến du lịch tiêu biểu truyền thống của các dân tộc thiểu số; 4.409 nhà văn hóa, khu thể thao tại các thôn, bản được đầu tư, hỗ trợ trang thiết bị, tu bổ, tôn tạo; bảo tồn, phát huy 124 lễ hội truyền thống, hỗ trợ hoạt động của 695 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống.
Điều đó cho thấy phát triển kinh tế - xã hội không có nghĩa là làm cho những bản làng trở nên giống nhau. Phát triển đúng nghĩa phải giúp người dân có cuộc sống tốt hơn, đồng thời giữ gìn được những giá trị văn hóa làm nên bản sắc của cộng đồng.
Thu hẹp khoảng cách không có nghĩa là xóa đi sự khác biệt
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có vị trí đặc biệt về kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Đây cũng là nơi có nhiều tiềm năng về kinh tế rừng, dược liệu, nông sản đặc sản, du lịch cộng đồng, sản phẩm OCOP và nhiều giá trị văn hóa có thể trở thành nguồn lực phát triển.
Vì vậy, hỗ trợ vùng khó khăn không nên được hiểu đơn giản là Nhà nước làm thay cho người dân.
Mục tiêu sâu xa hơn là tạo điều kiện để những lợi thế vốn có của vùng được đánh thức, để người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển.
Một sản phẩm đặc sản của núi rừng, nếu chỉ được bán trong phạm vi một phiên chợ nhỏ, sẽ có giá trị khác với khi được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và tiếp cận thị trường rộng lớn.
Một điểm du lịch cộng đồng, nếu được đầu tư đúng hướng, có thể tạo việc làm cho nhiều hộ dân, đồng thời giúp những giá trị văn hóa bản địa trở thành một nguồn lực tạo thu nhập.
Một vùng nguyên liệu nếu gắn được với doanh nghiệp, hợp tác xã, khoa học công nghệ và thị trường sẽ tạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với sản xuất nhỏ lẻ.

Ngày 19/8, trong chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, trong phần thảo luận tại tổ về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), đại biểu Ma Thị Thúy đề nghị dự thảo luật làm rõ hơn nguyên tắc ưu tiên nguồn lực cho vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi .
Ảnh: Hồ Long
Định hướng này cũng được đặt ra trong tổng kết Chương trình giai đoạn 2021–2025 và xây dựng nhiệm vụ giai đoạn 2026–2030: tiếp tục giữ vững những kết quả đã đạt được, đồng thời tập trung giải quyết những mục tiêu còn chưa đạt, nhất là về hạ tầng, địa bàn đặc biệt khó khăn, định canh, định cư, đất ở, đất sản xuất.
Đáng chú ý, tư duy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang ngày càng chuyển mạnh theo hướng lấy người dân làm chủ thể, phát huy lợi thế riêng của từng vùng và gắn sinh kế với nhu cầu thị trường. Đây là nền tảng để chính sách đi từ hỗ trợ trước mắt sang tạo năng lực phát triển lâu dài.
Khi người dân có thêm cơ hội để tự mình vươn lên
Một chính sách tốt không chỉ giúp người dân vượt qua khó khăn trước mắt mà còn phải tạo được khả năng tự phát triển về lâu dài.
Giảm nghèo là mục tiêu quan trọng, nhưng thoát nghèo bền vững mới là đích đến. Hỗ trợ sản xuất là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là giúp người dân có kiến thức, kỹ năng, vốn, công nghệ và thị trường để chủ động làm ăn.
Đây cũng là tinh thần được đặt ra cho giai đoạn 2026–2030. Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục cho thấy yêu cầu phải triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các nhiệm vụ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới.
Trong hành trình ấy, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra một không gian phát triển mới.
Đây là điểm rất đáng chú ý, bởi nếu trước đây khoảng cách địa lý từng khiến một sản phẩm của bản làng khó đi xa, thì nay công nghệ có thể giúp sản phẩm ấy tiếp cận khách hàng ở một tỉnh khác, thậm chí ở một thị trường rộng lớn hơn. Nếu trước đây người dân phải đi xa để tìm kiếm một số thông tin, dịch vụ, thì Internet và các nền tảng số đang dần rút ngắn khoảng cách ấy.
Nhưng để cơ hội thực sự đến với người dân, không thể chỉ nói về công nghệ ở tầm chính sách. Điều quan trọng là phải nhìn thấy những con người đang sử dụng công nghệ để thay đổi cách sản xuất, kinh doanh và tổ chức cuộc sống; những hợp tác xã biết ứng dụng khoa học kỹ thuật; những hộ dân biết đưa sản phẩm lên môi trường số; những thanh niên trở về quê khởi nghiệp bằng chính lợi thế của bản làng.
Từ chính sách đến những mô hình có thể nhân rộng
Một chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi người dân nhìn thấy sự thay đổi từ chính quê hương mình.
Vì thế, bên cạnh đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, một yêu cầu ngày càng quan trọng là phát hiện, giới thiệu và nhân rộng những mô hình làm ăn hiệu quả, những cách ứng dụng khoa học và công nghệ phù hợp với điều kiện miền núi, những người đang biết biến lợi thế của địa phương thành giá trị mới.
Đó cũng là ý nghĩa thiết thực của việc tuyên truyền các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ, kinh tế số và các điển hình tiên tiến ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Một mô hình tốt được biết đến không chỉ để biểu dương một cá nhân hay một địa phương. Quan trọng hơn, từ một cách làm cụ thể, người dân ở nơi khác có thể thấy rằng những điều tưởng như xa vời hoàn toàn có thể bắt đầu từ chính bản làng của mình.
Đó có thể là một hợp tác xã mạnh dạn ứng dụng công nghệ vào sản xuất và truy xuất nguồn gốc; một hộ gia đình đưa sản phẩm đặc sản lên môi trường số; một thanh niên trở về quê khởi nghiệp bằng sản vật địa phương; một làng nghề biết kết hợp giá trị truyền thống với phương thức quảng bá, bán hàng hiện đại; hay một địa phương sử dụng nền tảng số để đưa sản phẩm của đồng bào đến gần hơn với người tiêu dùng.
Những câu chuyện như vậy có giá trị đặc biệt. Bởi phía sau một mô hình thành công không chỉ là sản phẩm bán được nhiều hơn hay thu nhập cao hơn. Đó còn là câu chuyện về cơ hội, sự tự tin và khả năng vươn lên của đồng bào trong một giai đoạn phát triển mới.
Và khi khoa học công nghệ, kinh tế số bắt đầu hiện diện trong những bản làng, một câu hỏi lớn hơn được đặt ra: công nghệ đang mở thêm những cánh cửa nào cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi?




