A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đánh thức nguồn lực bản địa bằng công nghệ: Đòn bẩy đưa kinh tế vùng cao bứt phá trong kỷ nguyên mới

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sở hữu kho tàng tri thức bản địa vô giá, nguồn dược liệu quý và tinh hoa nghề thủ công lâu đời. Bước vào kỷ nguyên mới, sự đồng hành của khoa học, công nghệ (KHCN) và hạ tầng số được kỳ vọng trở thành cầu nối chiến lược: không chỉ dừng lại ở bảo tồn di sản mà còn chuẩn hóa, số hóa và thương mại hóa, biến tiềm năng văn hóa độc đáo thành nguồn lực kinh tế tự chủ, bền vững cho đồng bào.

133684-nghe-nhan-nong-thi-thuoc-nguoi-giu-lua-nghe-det-tho-cam-truyen-thong-xom-luong-noi-xa-ngoc-dao-ha-quang.jpg

Nghề dệt thổ cẩm của người Tày trên địa bàn tỉnh Cao Bằng dần được khôi phục. Ảnh: Lương Thảo

Nguy cơ mai một và bài toán chuyển hóa tài nguyên bản địa

Tri thức dân gian của 53 dân tộc thiểu số Việt Nam được bồi đắp qua hàng trăm năm lịch sử. Đó là kinh nghiệm chọn tạo giống cây trồng, kỹ thuật canh tác thích ứng thổ nhưỡng, các bài thuốc dược liệu gia truyền, hay nghệ thuật dệt thêu thổ cẩm tinh xảo - nơi mỗi hoa văn, hình khối là một câu chuyện kể về bản sắc và thế giới quan của cộng đồng.

Tuy nhiên, trong vòng xoáy đô thị hóa và giao thoa văn hóa, nguồn tài nguyên này đang đối mặt với nguy cơ mai một nghiêm trọng. Phần lớn tri thức vẫn được truyền miệng; khi thế hệ nghệ nhân cao tuổi vơi dần, kỹ nghệ dệt nhuộm, chữ viết cổ đứng trước nguy cơ thất truyền. Nhiều sắc phục truyền thống nguyên gốc của các dân tộc ít người như Rơ măm, Ơ đu, Brâu từng rơi vào tình trạng khó tìm lại bản gốc vì bị biến đổi, lai căng. Trong khi đó, nông đặc sản bản địa dù nức tiếng nhưng nếu thiếu quy chuẩn chất lượng, thiếu bảo hộ nhãn hiệu và công nghệ bảo quản thì vẫn quẩn quanh ở chợ phiên, phụ thuộc vào thương lái.

Sau một thập kỷ thực hiện Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN phát triển nông thôn, miền núi (Chương trình NTMN) giai đoạn 2016-2025 với 1.426 mô hình và 2.354 quy trình chuyển giao, thực tiễn đã khẳng định: Tiến bộ kỹ thuật chỉ có sức sống lâu bền khi bám rễ vào tập quán bản địa. Khoa học không đến để thay thế kinh nghiệm truyền thống, mà tiếp sức cho tri thức bản địa hồi sinh và nhân lên giá trị kinh tế gấp nhiều lần.

Số hóa di sản - kinh nghiệm tiên phong từ Thanh Hóa

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá hàng đầu, lấy người dân làm trung tâm. Để văn hóa trở thành động lực phát triển, yêu cầu cấp thiết là chuyển mạnh từ tư duy “giữ gìn thụ động trong bảo tàng” sang “số hóa chủ động để phát huy giá trị”.

Điển hình cho hướng đi này là Đề án "Bảo tồn, phát huy và phát triển tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026-2030". Với mục tiêu số hóa 70-80% tài liệu văn hóa của đồng bào, địa phương đã triển khai đồng bộ các giải pháp số thực chất:

Số hóa ngôn ngữ và chữ viết: Thu thập, lưu trữ số 2 bộ chữ Mường và Thái; số hóa sổ tay song ngữ Mường - Việt, Thái - Việt; phối hợp với Trường Đại học Hồng Đức biên soạn, xuất bản và số hóa 2 bộ tài liệu hoàn chỉnh về tiếng nói, chữ viết dân tộc Mông vào năm 2027; xây dựng giáo trình chữ Nôm Dao đưa vào trường học.

Xây dựng kho dữ liệu sống về trang phục và nghề dệt: Xuất bản tài liệu về trang phục Mông, Thổ, Khơ Mú; thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số về nghệ thuật trang trí và nghề truyền thống của cả 6 dân tộc.

Trực quan hóa quy trình truyền nghề: Xây dựng hệ thống video đa phương tiện hướng dẫn kỹ thuật cắt may, nhuộm sợi, dệt hoa văn, chế tác phụ kiện (mỗi địa phương thực hiện ít nhất 4 video/dân tộc), đưa lên các nền tảng mạng xã hội và cổng thông tin số để giới trẻ dễ dàng tiếp cận, học tập.

Sự can thiệp của công nghệ thông tin đã giải quyết được thách thức về thời gian. Khi tốc độ biến đổi văn hóa diễn ra quá nhanh, việc số hóa giúp kiểm kê, sưu tập và lưu giữ nguyên vẹn bản quyền họa tiết, kỹ thuật dệt trước khi bị mai một, tạo nền tảng vững chắc để phục chế và sáng tạo mẫu mã mới trên máy tính.

z8016606764955e7d19f1b66c06cfbb1163451a25ba23d-ebhh-6512.jpg

Học sinh tìm hiểu tiếng nói, chữ viết dân tộc trong một lớp học. Ảnh: Nguyễn Linh

Kỳ vọng bứt phá: Đưa di sản trở thành tài sản kinh tế

Đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong kỷ nguyên mới mở ra kỳ vọng lớn về một hệ sinh thái kinh tế bản địa tự chủ và giàu sức cạnh tranh, đó là việc chuẩn hóa giá trị dược liệu và nông sản đặc thù: Tri thức dùng thuốc của đồng bào được các viện nghiên cứu phân tích hoạt chất, chuẩn hóa thành quy trình chiết xuất hiện đại. Khi gắn với chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và mã QR truy xuất nguồn gốc, nông - lâm sản vùng cao đủ tiêu chuẩn bước vào chuỗi siêu thị, sàn thương mại điện tử lớn với giá trị gia tăng cao.

Cùng với đó, kinh tế sáng tạo được phát triển từ thổ cẩm và du lịch cộng đồng: Đưa phần mềm đồ họa hỗ trợ đồng bào thiết kế hoa văn thổ cẩm giúp rút ngắn chu kỳ sản xuất, tạo ra các sản phẩm thời trang, quà lưu niệm hiện đại nhưng giữ trọn họa tiết cổ truyền.

Đồng thời, kết hợp với việc quảng bá văn hóa bản địa qua các kênh video trực tuyến, các bản làng có thể phát triển du lịch sinh thái - trải nghiệm, tạo việc làm và thu nhập bền vững tại chỗ.

Đặc biệt, đồng bào là chủ thể làm chủ công nghệ. Theo đó, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật phải đảm bảo nguyên tắc người dân địa phương tham gia trực tiếp từ nhận diện tri thức, thử nghiệm đến quản lý và hưởng lợi công bằng. Cần ưu tiên bố trí kinh phí sự nghiệp KHCN hàng năm, đào tạo kỹ năng số cho lao động trẻ là người DTTS để họ trở thành những hạt nhân đổi mới sáng tạo tại buôn làng.

Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không làm phai nhạt bản sắc văn hóa vùng cao, mà chính là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ và chuyển hóa di sản thành tài sản. Khi tri thức bản địa được tiếp sức bằng công nghệ hiện đại, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ có đủ nội lực để vươn lên phát triển kinh tế mạnh mẽ, tự tin hòa nhịp cùng kỷ nguyên vươn mình của đất nước.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết