Thoát nghèo từ giảm nghèo thông tin: Cách làm của Đắk Lắk
Trong những năm gần đây, với sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn hệ thống chính trị trong việc triển khai nhiều dự án, tiểu dự án xoá đói giảm nghèo, trong đó có tiểu dự án 1 giảm nghèo thông tin thuộc Dự án 6 (thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững) cùng quyết tâm tự vươn lên của người dân, đời sống của hàng chục nghìn hộ nghèo tại tỉnh Đắk Lắk đã được cải thiện rõ rệt, an sinh xã hội được tăng cường và nhiều mô hình sinh kế đã chứng minh hiệu quả.
Chính quyền quyết liệt “giảm nghèo thông tin” cho người dân
Trong những năm gần đây, các chính sách, dự án, tiểu dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được Đắk Lắk triển khai khá đồng bộ, từ xây dựng văn bản chỉ đạo, kế hoạch tổ chức thực hiện đến huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt là trong xóa nhà tạm, nhà dột nát và hỗ trợ sinh kế cho người nghèo.
Đặc biệt, công tác thông tin, tuyên truyền và giáo dục được đẩy mạnh đã góp phần thay đổi nhận thức của cấp ủy, chính quyền và người dân, đặc biệt là các hộ nghèo, về mục tiêu giảm nghèo bền vững. Sự đồng thuận xã hội được nâng cao, khơi dậy tinh thần tự lực, khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ lại, giúp người nghèo chủ động tiếp nhận và sử dụng hiệu quả các chính sách, nguồn hỗ trợ của Nhà nước để vươn lên.
Một trong những thành công nổi bật của việc triển khai tiểu dự án 1 tại Đắk Lắk là việc tỉnh đã xây dựng và phát sóng 08 chương trình truyền hình bằng tiếng phổ thông. Đây là các chương trình cung cấp thông tin về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như những vấn đề quan trọng của đời sống xã hội. Các chương trình này đã thu hút sự chú ý của đông đảo người dân, đặc biệt là những đối tượng thuộc diện khó khăn, giúp họ cập nhật được những thông tin quan trọng liên quan đến chính sách giảm nghèo, y tế, giáo dục và phát triển cộng đồng.
Bên cạnh đó, tỉnh Đắk Lắk cũng triển khai 04 chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc, với sự hỗ trợ từ các phiên dịch viên, giúp người dân thuộc các dân tộc thiểu số như Ê Đê và M’nông hiểu rõ hơn về các chính sách giảm nghèo và các chương trình phát triển của địa phương. Các chương trình phát thanh này đã được phát sóng rộng rãi và đã tạo ra hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về các cơ hội và chính sách hỗ trợ phát triển.

Người dân Đắk Lắk nghiên cứu tài liệu hướng dẫn cách làm chuồng trại chăn nuôi tại lớp tập huấn chăm sóc bò cái sinh sản, nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng. Ảnh: T.L
Ngoài ra, tiểu dự án cũng đã đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng truyền thông tại các xã khó khăn. Cụ thể, các đài truyền thanh cấp xã tại hai xã vùng III của huyện M’Drắk đã được thay thế và nâng cấp bằng công nghệ thông tin - viễn thông tiên tiến, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi. Các điểm cung cấp dịch vụ bưu chính công cộng cũng đã được thiết lập tại các xã đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện cho người dân có thể nhận và gửi thông tin qua các phương tiện hiện đại.
Một trong những sáng kiến đáng chú ý trong tiểu dự án là việc triển khai hệ thống truyền thanh thông minh ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông tại các xã Ea Sô (huyện Ea Kar) và Ea R’bin (huyện Lắk). Hệ thống này không chỉ giúp truyền tải thông tin một cách hiệu quả mà còn đảm bảo sự linh hoạt trong việc cung cấp các nội dung truyền thông kịp thời, đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của người dân. Việc đầu tư vào các điểm truy cập thông tin cộng đồng cũng giúp người dân ở các khu vực đặc biệt khó khăn có thể tìm kiếm thông tin về sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ công mà không cần phải di chuyển xa.
Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 giảm bình quân 1,67%/năm, từ 10,09% cuối năm 2021 với gần 77.000 hộ xuống còn 5,08% cuối năm 2024 với hơn 40.000 hộ. Đặc biệt, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 4,47%, giảm gấp gần hai lần chỉ tiêu đề ra. Cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng từ 3% trở lên, còn khoảng 2,08%
Mỗi địa phương ở Đắk Lắk, một cách làm hay
Công cuộc giảm nghèo tại tỉnh Đắk Lắk không chỉ là câu chuyện của chính quyền, mà là nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị, và bên cạnh đó, quan trọng không kém là quyết tâm, sáng tạo của từng địa phương, thậm chí là từng hộ gia đình.

Trồng sầu riêng giúp nhiều hộ gia đình tỉnh Đắk Lắk tăng thu nhập, thoát nghèo. Ảnh: T.L
Xã Tam Giang (Đông Bắc của tỉnh Đắk Lắk, được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã Cư Klông, Ea Tam, Tam Giang cũ), với 21 dân tộc cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 51,2%. Tại đây những năm qua, giảm nghèo về thông tin được xem là “chìa khóa” giúp người dân tiếp cận, nắm bắt những kiến thức hữu ích, tiếp cận phương thức sản xuất mới, hướng đến thoát nghèo bền vững. Để triển khai hiệu quả tiểu dự án “Giảm nghèo về thông tin” của Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 xã đã tăng cường cung cấp thông tin về cơ sở, nhất là cung cấp thông tin cho người dân sinh sống trên địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số về kiến thức, kỹ năng, mô hình, kinh nghiệm lao động, sản xuất, kinh doanh; truyền thông nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội, của người nghèo về công tác giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Bên cạnh đó, xã chủ trương thực hiện tốt các giải pháp hỗ trợ người nghèo sử dụng dịch vụ viễn thông, internet, ứng dụng công nghệ thông tin để người dân chủ động hơn trong việc tiếp cận chính sách, tìm kiếm các nguồn hỗ trợ cũng như học hỏi kinh nghiệm, giải pháp để vươn lên thoát nghèo. Từ việc thay đổi nhận thức, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng quy mô, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhờ đó, năm 2025, tỉ lệ hộ nghèo của xã ước còn 20,01%, tương đương 1.165 hộ nghèo.
Xã Ea Wer của huyện Buôn Đôn, duy trì phát sóng thường xuyên, cung cấp thông tin về chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách giảm nghèo, tình hình thị trường nông sản và các cảnh báo liên quan đến đời sống. Để người dân tiếp cận thông tin thuận tiện hơn, nhiều lớp tập huấn sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, định danh điện tử, ký số cá nhân và tra cứu thủ tục hành chính đã được tổ chức. Các buổi hướng dẫn được thiết kế phù hợp với hộ nghèo, hộ cận nghèo, người lớn tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số, những nhóm đối tượng dễ gặp rào cản khi sử dụng công nghệ. Người dân còn được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích, giúp giảm chi phí truy cập internet ở các thôn buôn xa trung tâm. Đây là điều kiện quan trọng để thu hẹp khoảng cách số giữa miền núi và đồng bằng, giúp người dân bình đẳng hơn trong tiếp cận thông tin.
Tại xã Yang Mao, việc triển khai Tiểu dự án “Giảm nghèo về thông tin” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được xem là cầu nối quan trọng, giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận dịch vụ viễn thông, dịch vụ công trực tuyến, thông tin tuyển dụng cũng như các chương trình hỗ trợ sinh kế. Để dự án đạt hiệu quả, xã Yang Mao tập trung đầu tư hạ tầng viễn thông, bảo đảm mạng di động và mạng cố định phủ sóng toàn bộ địa bàn. Năm 2025, thực hiện Tiểu dự án 1 giảm nghèo về thông tin thuộc Dự án 6 truyền thông giảm nghèo về thông tin, xã Yang Mao đã tăng cường cơ sở vật chất cho đài truyền thanh, thiết lập 3 cụm loa thông minh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông, lắp đặt tại các thôn Cư Dhiăt, Ea Hăn, Nao Huh. Song song với đó, xã thành lập Ban Chỉ đạo cấp xã về chuyển đổi số và các tổ công nghệ số cộng đồng tại từng thôn, buôn. Bên cạnh việc thành lập các tổ công nghệ số cộng đồng, xã còn chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ để người dân tiếp cận thông tin nhanh và hiệu quả hơn. Nhờ việc chủ động tìm hiểu khoa học kỹ thuật trên các nền tảng số, thường xuyên cập nhật kiến thức trên internet, nhiều hộ gia đình tại xã đã thành công trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mang lại thu nhập ổn định, vươn lên thoát nghèo.
Có thể nói, nhờ nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, trong đó có nguồn lực thông tin, tri thức, hàng nghìn hộ dân nghèo, cận nghèo tại tỉnh Đắk Lắk đã thay đổi tư duy, ý chí thoát nghèo dần thay đổi thói quen sản xuất, tăng cường tiếp cận khoa học kỹ thuật, chủ động hơn trong việc tìm kiếm các sinh kế mới.



