A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sửa Luật Đầu tư: Bổ sung 4 hình thức hỗ trợ, mở gói hỗ trợ vượt trội cho dự án lan tỏa

áng ngày 30/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự án Luật tập trung vào 4 nhóm chính sách lớn, gồm mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; đổi mới ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số; tiếp tục cải thiện thủ tục đầu tư; nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Sửa Luật Đầu tư: Bổ sung 4 hình thức hỗ trợ, mở gói hỗ trợ vượt trội cho dự án lan tỏa
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình về dự án Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Ảnh: VPQH

Mở rộng tiếp cận thị trường, đổi mới ưu đãi và hỗ trợ đầu tư

Sáng ngày 30/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự án Luật tập trung vào 4 nhóm chính sách lớn, gồm mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; đổi mới ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số; tiếp tục cải thiện thủ tục đầu tư; nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, về mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, dự thảo Luật nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị theo hướng nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường theo lộ trình, trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động, bảo đảm công khai, minh bạch, thống nhất và không phân biệt đối xử.

Việc sửa đổi cũng nhằm khắc phục những hạn chế của danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường, đồng thời thúc đẩy nâng hạng thị trường chứng khoán.

Đối với ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, dự thảo bổ sung 4 hình thức hỗ trợ gồm: Phát triển chuỗi cung ứng; hỗ trợ sản xuất, cải tiến sản phẩm, công nghệ; hỗ trợ đầu tư ban đầu, tạo tài sản cố định; hỗ trợ hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ.

Chính sách được định hướng chuyển dần từ các hình thức ưu đãi truyền thống sang hỗ trợ gắn với hiệu quả dự án, quản trị vòng đời dự án và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Dự thảo cũng bổ sung chính sách miễn, giảm tiền sử dụng biển.

Về ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt, dự thảo hoàn thiện đối tượng, nguyên tắc và chính sách theo hướng cho phép Chính phủ quyết định gói hỗ trợ vượt trội, gắn với kết quả thực hiện cam kết đối với một số dự án cần thu hút, có tác động lan tỏa.

Một nội dung đáng chú ý khác là hỗ trợ chuyển đổi, phát triển khu công nghiệp sinh thái thông qua cơ chế khấu hao nhanh cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp được chứng nhận sinh thái và doanh nghiệp sinh thái. Thời hạn dự án trong khu công nghiệp có thể được kéo dài nhưng không vượt quá 70 năm. Chính sách hướng tới tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước.

Dự thảo cũng cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ khả năng ngân sách và định hướng phát triển, quyết định hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lao động tại cơ sở của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sẽ quy định tiêu chí, điều kiện, thủ tục và mức hỗ trợ nhưng không vượt mức trần do Chính phủ quy định.

Đối với Quỹ hỗ trợ đầu tư, Chính phủ được giao quy định chi tiết về mô hình, địa vị pháp lý, nguồn vốn ngân sách, đối tượng, tiêu chí, điều kiện, thủ tục, mức hỗ trợ, hoàn trả chi phí và chính sách đặc thù của Quỹ; không phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành.

Chính sách thu hút đầu tư cũng được định hướng theo địa bàn, vùng động lực và các cực tăng trưởng. Theo đó, ưu tiên thu hút công nghệ cao, công nghệ xanh, hiện đại, có giá trị gia tăng; các vùng vệ tinh tập trung vào chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ hỗ trợ. Đối với các địa bàn khác, lựa chọn dự án phù hợp với lợi thế và từng bước nâng cao chất lượng đầu tư.

Tiếp tục cải thiện thủ tục, nâng hiệu quả quản lý đầu tư nước ngoài

Nhằm tiếp tục cải thiện thủ tục đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo Luật mở rộng thủ tục đầu tư đặc biệt đối với dự án thuộc các ngành, lĩnh vực thực hiện ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế. Nội dung này được gắn với quy định về khu đất đã thu hồi, giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý; khu đất thuộc trường hợp thu hồi tại điểm a khoản 2 Điều 2 Luật Phát triển đô thị.

Để nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, dự thảo hoàn thiện Cổng thông tin quốc gia nhằm hỗ trợ công tác giám sát, kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, đổi mới hoạt động hỗ trợ các dự án và mục tiêu xúc tiến đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ, bảo đảm hoạt động đầu tư hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và doanh nghiệp. Chính sách mới cũng hướng tới tăng cường tự chủ chiến lược, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.

Thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, đa số ý kiến Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và Kết luận số 18-KL/TW; đồng thời tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách.

Thường trực Ủy ban đề nghị đặt các nội dung sửa đổi trong mối liên hệ với Luật Đất đai, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đấu thầu, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cùng các luật có liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Về nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Thường trực Ủy ban cơ bản thống nhất với định hướng mở rộng tiếp cận thị trường. Cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát quy định giao Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Sửa Luật Đầu tư: Bổ sung 4 hình thức hỗ trợ, mở gói hỗ trợ vượt trội cho dự án lan tỏa
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: VPQH

Về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ ngay trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản để xác định dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt. Cùng với đó, có cơ chế gắn ưu đãi, hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư.

Các tiêu chí như vốn đầu tư, vốn giải ngân, chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, giá trị sản xuất trong nước... cần được lượng hóa. Đồng thời, xác định rõ mức độ hoàn thành, trường hợp chỉ hoàn thành một phần cam kết và cơ chế duy trì, điều chỉnh, giảm hoặc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ.

Đối với các khoản chi được hỗ trợ, cần làm rõ đối tượng, điều kiện, phạm vi, mức hỗ trợ và cơ chế kiểm soát; quy định nguyên tắc không hỗ trợ trùng một khoản chi, giới hạn hoặc trần hỗ trợ, cơ chế xác minh, thu hồi và trách nhiệm kiểm tra, giám sát.

Thường trực Ủy ban cũng đề nghị xác định cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát việc cộng gộp hỗ trợ giữa các chính sách và nghiên cứu khả năng tích hợp, chia sẻ dữ liệu trên Cổng một cửa đầu tư quốc gia.

Với cơ chế đặc thù thu hút đầu tư của địa phương, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ mối quan hệ với chính sách hỗ trợ đầu tư đặc biệt, nhất là nhằm tránh hỗ trợ trùng cùng một khoản chi từ nhiều nguồn ngân sách. Đồng thời, cần xác định rõ nguyên tắc, giới hạn thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cơ chế kiểm soát việc sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư.

Đối với chính sách khấu hao nhanh cho khu công nghiệp sinh thái, Thường trực Ủy ban đề nghị làm rõ điều kiện áp dụng, tài sản được khấu hao nhanh, mức độ và thời gian áp dụng. Đồng thời, nghiên cứu chính sách hỗ trợ riêng đối với các khu công nghiệp hiện hữu chuyển đổi sang khu công nghiệp sinh thái, tạo động lực cho quá trình chuyển đổi.

Về Cổng một cửa đầu tư quốc gia, cơ quan thẩm tra đề nghị xác định rõ mối quan hệ giữa Cổng một cửa đầu tư quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư và Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư cũng như trách nhiệm quản lý, cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Qua đó, bảo đảm nhà đầu tư không phải cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Video